CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH VÀ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
PGS.TS Đinh Ngọc Vượng
Viện Nhà nước và Pháp luật, Việt Nam
1. Đặt vấn đề
Ngày nay, cải cách hành chính là vấn đề mang tính toàn cầu. Cả các nước đang phát triển và các nước phát triển đều xem cải cách hành chính như một động lực mạnh mẽ để thúc đẩy tăng trường kinh tế, phát triển dân chủ và các mặt khác của đời sống xã hội.
Ở Việt Nam, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước được bắt đầu từ năm 1986, tính đến nay đã gần 20 năm. Trong khoảng thời gian đó, đồng thời với việc đổi mới về kinh tế thì cải cách hành chính cũng được tiến hành. Cuộc cải cách hành chính được thực hiện từng bước thận trọng và đã thu được nhiều kết quả rất đáng khích lệ. Cải cách hành chính đang thể hiện rõ vai trò quan trọng của mình trong việc đẩy nhanh sự phát triển đất nước. Việt Nam đang là nước xuất khẩu gạo đứng hàng thứ hai, thứ ba trên thế giới, công nghiệp và dịch vụ phát triển, đầu tư nước ngoài xu hướng chung là tăng, nhiều vấn đề xã hội đang được giải quyết tốt. . .Tuy nhiên, Ở Việt Nam đang còn rất nhiều vấn đề kinh tế - xã hội đã tồn tại từ lâu và mới nảy sinh cần phải được giải quyết tích cực và có hiệu quả. Bên cạnh đó, bối cảnh toàn cầu hoá đang đặt ra trước Việt Nam những thách thức và cơ hội mới đòi hỏi phải có những cố gắng cao độ. Điều đó cũng có nghĩa là quá trình cải cách hành chính ở Việt Nam còn rất nhiều vấn đề đặt ra cần được tiếp tục giải quyết. Cái khó trong cải cách hành chính Ở Việt Nam là phải tiến hành một cuộc cải cách hành chính có tính chất cách mạng từ quản lý lập trung quan liêu, bao cấp sang quản lý trong điều kiện kinh tế thị trường và mở rộng dân chủ. Điều này chưa từng có tiền lệ. Vì vậy, đối với chúng tôi, bên cạnh việc tự tìm tòi thì việc tham khảo kinh nghiệm cải cách hành chính ở các nước (trong đó có Nhật Bản) là hết sức cần thiết để đẩy mạnh và có kết quả hơn nữa công cuộc cải cách nền hành chính nhà nước.
Tư tưởng nhà nước pháp quyền đã hình thành sớm trong lịch sử tư tưởng chính trị- pháp lý của nhân loại, ngày càng được bổ sung với những nội dung mới. Nhưng nội dung căn bản của lý thuyết" nhà nước pháp quyền" là sự đề cao pháp luật trong mối tương quan với nhà nước, pháp luật như là công cụ để hạn chế quyền lực nhà nước.
Nhà nước pháp quyền là một hiện tượng phức tạp chứa đầy ẩn số, đầy những mâu thuẫn nội tại của nó. Nhà nước pháp quyền được tạo bởi hai thành tố " nhà nước" và " pháp quyền". Sự phức tạp, mâu thuẫn là ở chỗ, nhà nước đặt ra pháp luật nhưng nhà nước lại phải tôn trọng pháp luật, đặt mình dưới pháp luật, coi pháp luật là những chuẩn mực cho mọi hành vi hoạt động của mình. Thêm vào đó sự phức tạp còn là ở chỗ có vô số những quan niệm về nhà nước và về pháp luật. Đã nhiều thời đại và cho đến tận ngày nay ngưòi ta vẫn quan niệm: "nhà nước là công cụ thống trị của giai cấp này đối với giai cấp khác trong xã hội" hay "nhà nước là tổ chức phúc lợi chung của xã hội", còn pháp luật là ý chí của giai cấp thống trị được đề lên thành luật". Trong khi người ta có thể thừa nhận sự lệ thuộc của nhà nước vào pháp luật, nhưng thực tiễn lại có vô số những hành vi vi phạm pháp luật từ phía công quyền.
Lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến Việt Nam, Hiến pháp năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001 ghi nhận quan điểm xây dựng nhà nước pháp quyền. Điều 2 ghi nhận: "Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân , vì nhân dân".
Việc ghi nhận đó là cơ sở pháp lý sác định mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam. Nhưng xây dựng nhà nước pháp quyền là một quá trình lâu dài, phức tạp, các quốc gia xây dựng nhà nước pháp quyền với những xuất phát điểm khác nhau về đời sống kinh tế- xã hội và văn hóa và bằng những con đường, bước đi khác nhau, không có một mô hình chung cho mọi dân tộc.
2. Quan niệm về nhà nước pháp quyền
Về nhà nước pháp quyền cũng có vô số những quan niệm khác nhau, được nhìn nhận từ nhiều khía cạnh khác nhau. Do đó không thể có một định nghĩa ngắn gọn về nhà nước pháp quyền, mà cần cần phải xem xét nhà nước pháp quyền từ nhiều khía cạnh, phương diện khác nhau.
Về mặt nhận thức theo tôi nhà nước pháp quyền có những đặc trưng mang tính phổ biến sau đây:
- Nhà nước pháp quyền trước hết là nhà nước hợp hiến, hợp pháp; nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, trong đó các đạo luật chiếm ưu thế trong hệ thống pháp luật;
Pháp luật của nhà nước pháp quyền là pháp luật chứa đựng tính nhân văn, nhân đạo, pháp luật vì con người, vì số đông trong xã hội, pháp luật phải thể hiện được ý chí cộng đồng dân tộc, quốc gia, không phải ý chí của một nhóm người, một cá nhân hay một tập đoàn nào đó.
- Nhà nước, các cơ quan của nhà nước phải đặt mình dưới pháp luật, lệ thuộc vào pháp luật. Trong mối quan hệ giữa nhà nước với pháp luật thì "tính trội " thuộc về pháp luật, ở khía cạnh này pháp luật như là công cụ, phương tiện để hạn chế quyền lực nhà nước, hạn chế công quyền.
- Nhà nước pháp quyền là nhà nước trong đó các quyền tự do của công dân phải ngày càng được mở rộng, được bảo đảm, bảo vệ bằng cơ chế pháp luật, bằng các tiền đề, điều kiện về kinh tế- xã hội, bằng tổ chức nhà nước. Như vậy, pháp luật là công cụ phương tiện ghi nhận, bảo vệ các quyền công dân.
- Nhà nước pháp quyền là nhà nước mà trong đó thiết lập mối quan hệ trách nhiệm qua lại giữa công dân với nhà nước và nhà nước với công dân. Công dân có trách nhiệm với nhà nước và nhà nước có trách nhiệm với công dân.
Trong nhà nước pháp quyền vai trò của Toà án được đề cao, các nhánh quyền lực lập pháp và hành pháp phải độc lập một cách tương đối, phối hợp với nhau và phải kiềm chế được nhau.
Ngoài những đặc điểm mang tính phổ biến đó, Nhà nước pháp quyền Việt Nam lại có một số đặc điểm mang tính riêng biệt của mình thể hiện định hướng chính trị của nhà nước, tính chất, bản chất của nhà nước mà Việt Nam cần xây dựng đó là: Nhà nước pháp quyền Việt Nam theo định hướng xã hội chủ nghĩa; Nhà nước pháp quyền Việt Nam phải là nhà nước mà tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; Nhà nước pháp quyền Việt Nam phải là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Nhà nước pháp quyền Việt Nam được xây dựng trên cơ sở quan điểm quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.
Nhà nước pháp quyền Việt Nam đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam- đảng của giai cấp công nhân Việt Nam và của cả dân tộc. Đây là những vấn đề mang tính nguyên tắc có tính chính trị- xã hội định hướng cho việc xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam trên thực tế.
Tóm lại: Nhà nước pháp quyền là nhà nước hợp hiến, hợp pháp, mọi hoạt động của nhà nước hợp hiến, hợp pháp, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước của dân, do dân, vì dân. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền dân chủ.
Thông quan những nhận thức này về nhà nước pháp quyền có thể nhận thấy những điều cốt yếu khi xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam phải giải quyết trên thực tế: quan hệ nhà nước và pháp luật; quan hệ nhà nước với dân cư; tạo được các các bảo đảm pháp lý, các tiền đề, điều kiện cho xây dựng nhà nước pháp quyền; xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam phải bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; bảo đảm bản chất của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân của nhà nước.
Trong những năm gần đây để từng bước xây dựng nhà nước pháp quyền, Nhà nước Việt Nam đã thực hiện nhiều hoạt động: Hoàn thiện, sửa đổi Luật, cũng như các văn bản dưới luật; tăng cường các định chế kiểm tra, thanh tra, giám sát việc thực hiện pháp luật; Đổi mới bộ máy nhà nước từ việc tổ chức đến hoạt động thực tế của cơ quan quyền lực nhà nước; cơ quan hành chính, cơ quan tư pháp; chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường nhằm giải phóng mọi năng lực sản xuất xã hội, phát huy tính năng động sáng tạo, dân chủ của người dân trong lĩnh vực kinh tế. Đây là tiền đề, điều kiện có tính căn bản, nền tảng của xây dựng nhà nước pháp quyền.
Về mặt nhận thức có thể nói rằng ngày nay nghiên cứu về nhà nước pháp quyền ở Việt Nam đã bước qua giai đoạn trả lời câu hỏi: Nhà nước pháp quyền là gì? để xây dựng nhà nước pháp quyền cần phải làm gì? mà chuyển sang giai đoạn để xây dựng nhà nước pháp quyền phải làm như thế nào?. Quốc hội, Chính phủ, Tòa án, Kiểm sát phải tổ chức và hoạt động như thế nào, phải làm gì để xây dựng nhà nước pháp quyền.
3. Nhà nước pháp quyền với việc cải cách hành chính ở Việt Nam
Lịch sử đã chỉ ra rằng bất kỳ một cuộc cải cách nào cũng đều có mục tiêu, mục đích xã hội của nó. Mục tiêu cải cách hành chính ở Việt Nam hiện nay là: xây dựng một nền hành chính trong sạch, vững mạnh, tiết kiệm, chuyên nghiệp, phục vụ nhân dân ngày một tốt hơn.
Cải cách hành chính ở Việt nam được tiến hành nhiều năm nay với những bước đi- lộ trình khác nhau từ thấp tới cao. Bắt đầu là việc cải cách một bước thủ tục hành chính trong việc giải quyết các công việc của cá nhân, tổ chức, đến cải cách một bước nền hành chính nhà nước với ba nội dung là: cải cách thể chế hành chính; cải cách bộ máy hành chính nhà nước; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức. Ngày nay cải cách hành chính đã chuyển sang một bước mới với bốn nội dung: cải cách thể chế hành chính; cải cách bộ máy hành chính nhà nước; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức; cải cách tài chính công.
Trong những năm qua cải cách hành chính ở Việt Nam đã làm được những gì để góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền đó là:
- Về thể chế hành chính đã sửa đổi Hiến pháp, ban hành các Luật mới và các văn bản dưới luật về tổ chức bộ máy nhà nước; Sửa đổi bổ sung một số điều Pháp lệnh cán bộ, công chức; ban hành các nghị định để cụ thể hóa Pháp lệnh, cán bộ, công chức...Điều quan trọng là: các văn bản về tổ chức bộ máy nhà nước là đã quy định khá cụ thể quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, từng bước thể hiện sự phân cấp trong quản lý giữa Trung ương và địa phương; các văn bản pháp luật về công vụ, cán bộ, công chức đã quy định khá cụ thể các quyền, nghĩa vụ của các cán bộ, công chức và đã bước đầu đi theo hướng chuyên biệt hoá các đối tượng những người phục vụ trong cơ quan, tổ chức nhà nước.
- Về bộ máy hành chính đã giảm dần các đầu mối quản lý, số lượng các cơ quan quản lý nhà nước đã giảm xuống đáng kể, thủ tuc hành chính được cải cách theo hướng "một cửa", mẫu hóa các văn bản hành chính, giấy tờ, công khai các thủ tục hành chính. Chính việc cải cách thủ tục hành chính này đã góp phần hạn chế sự sách nhiễu, phiến hà, tham những của các công chức hành chính trong khi giải quyết các công việc của công dân. Đây là điểm căn bản nhất của cải cách hành chính góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền.
Một vấn đề đang được quan tâm trong cải cách hành chính ở Việt Nam là vấn đề phân cấp trong quản lý nhà nước. Phân cấp thực chất là việc chuyển dần các công việc, nguồn lực do chính quyền trung ương nắm giữ cho chính quyền địa phương các cấp một cách lâu dài, ổn định bằng các văn bản luật, dưới luật, nhằm mở rộng dân chủ, phát huy tính chủ động sáng tạo của chính quyền địa phương. Trong xu hướng phân cấp bộ máy hành chính nhà nước ở trung ương sẽ tập trung vào việc xây dựng chính sách, bảo đảm sự thống nhất về thể chế, việc giải quyết những vấn đề lớn của quốc gia, còn những việc thuộc phạm vi cộng đồng lãnh thổ do cộng đồng lãnh thổ giải quyết. Như vậy, vấn đề phân cấp gắn với vấn đề dân chủ, dân chủ là cốt lõi của nhà nước pháp quyền, không có dân chủ thì không có nhà nước pháp quyền, không mở rộng quyền chủ động sáng tạo của chính quyền địa phương thì không có nhà nước pháp quyền. Bởi vì chỉ có thể thông qua những thiết chế dân chủ, phát huy tính dân chủ, sáng tạo của cộng đồng lãnh thổ mới có thể tạo lập được môi trường thuận lợi để nhân dân các cộng đồng lãnh thổ kiểm soát được hoạt động của nhà nước.
Ngày nay một số địa phương đã áp dụng tiêu chuẩn ISO để đánh gía, kiểm soát thường xuyên hoạt động của các cơ quan hành chính trong việc giải quyết các công việc của cá nhân, tổ chức. Trong số các tiêu chí đánh giá về cơ quan hành chính có các tiêu chí đáng lưu ý gắn với nhà nước pháp quyền: tính hợp pháp của nội dung các quyết định; tính đúng đắn về thời hạn theo quy định của pháp luật của các quyết định; tính đúng đắn về thủ tục giải quyết các công việc. Thực tiễn việc áp dung các tiêu chuẩn ISO vào hoạt động hành chính đã mang lại những kết quả đáng kể: việc giải quyết các công việc của dân đơn giản, nhanh gọn, đúng pháp luật, đúng thời hạn, đúng thủ tục.
Tóm lại việc cải cách hành chính ở Việt Nam trong những năm qua và trong tương lai đi theo hướng làm cho bộ máy hành chính hoàn bị hơn, hoạt động có hiệu quả hơn, phục vụ nhân dân ngày một đúng pháp luật, tốt hơn và tiết kiệm nhất, dần từng bước chuyển nền hành chính từ cơ quan cai quản thành các cơ quan phục vụ dân, làm các dịch vụ hành chính đối với dân, công dân là khách hàng của nền hành chính, là người đánh gía khách quan nhất về mọi hoạt động của bộ máy nhà nước, bộ máy hành chính.
Tất cả những mục tiêu đó của cải cách hành chính cũng là nhằm góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với bản chất của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
Thứ Năm, 4 tháng 9, 2008
Thứ Tư, 30 tháng 7, 2008
Bình ngô đại cáo
Bình Ngô Đại Cáo
Bản dịch của Ngô Tất Tố
Thay trời hành hóa, hoàng thượng chiếu rằng,
Bản dịch của Ngô Tất Tố
Thay trời hành hóa, hoàng thượng chiếu rằng,
Từng nghe: Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân, Quân điếu phạt trước lo trừ bạo; Như nước Đại Việt ta từ trước, Vốn xưng nền văn hiến đã lâu, Nước non bờ cõi đã chia, Phong tục Bắc Nam cũng khác; Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần; bao đời xây nền độc lập; Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên; mỗi bên hùng cứ một phương; Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau, Song hào kiệt thời nào cũng có. Cho nên: Lưu Cung tham công nên thất bại; Triệu Tiết chí lớn phải vong thân; Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã Việc xưa xem xét. Chứng cứ còn ghi. Vưà rồi: Nhân họ Hồ chính sự phiền hà Để trong nước lòng dân oán hận Quân cuồng Minh thưà cơ gây loạn Bọn gian tà còn bán nước cầu vinh Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ Dối trời lừa dân đủ muôn ngàn kế Gây thù kết oán trải mấy mươi năm Bại nhân nghĩa nát cả đất trờị Nặng thuế khóa sạch không đầm núi. Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc, Ngán thay cá mập thuồng luồng. Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng, Khốn nỗi rừng sâu nước độc. Vét sản vật, bắt dò chim sả, chốn chốn lưới chăng. Nhiễu nhân dân, bắt bẫy hươu đen, nơi nơi cạm đặt. Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ, Nheo nhóc thay kẻ góa bụa khốn cùng. Thằng há miệng, đứa nhe răng, Máu mỡ bấy no nê chưa chán, Nay xây nhà, mai đắp đất, Chân tay nào phục dịch cho vừa ? Nặng nề những nổi phu phen Tan tác cả nghề canh cửi. Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội, Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi! Lòng người đều căm giận, Trời đất chẳng dung tha; Ta đây: Núi Lam Sơn dấy nghĩa Chốn hoang dã nương mình Ngẫm thù lớn há đội trời chung Căm giặc nước thề không cùng sống Đau lòng nhức óc, chốc đà mười mấy năm trời Nếm mật nằm gai, há phải một hai sớm tối. Quên ăn vì giận, sách lược thao suy xét đã tinh, Ngẫm trước đến nay, lẽ hưng phế đắn đo càng kỹ Những trằn trọc trong cơn mộng mị, Chỉ băn khoăn một nỗi đồ hồi Vừa khi cờ nghĩa dấy lên, Chính lúc quân thù đang mạnh. Lại ngặt vì: Tuấn kiệt như sao buổi sớm, Nhân tài như lá mùa thu, Việc bôn tẩu thiếu kẻ đở đần, Nơi duy ác hiếm người bàn bạc, Tấm lòng cứu nước, Vẫn đăm đăm muốn tiến về Đông, Cỗ xe cầu hiền, Thường chăm chắm còn dành phía tả. Thế mà: Trông người, người càng vắng bóng, Miịt mù như nhìn chốn bể khơi. Tự ta, ta phải dốc lòng, Vội vã hơn cứu người chết đói. Phần vì giận quân thù ngang dọc, Phần vì lo vận nước khó khăn, Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần, Lúc Khôi Huyện quân không một đội. Trời thử lòng trao cho mệnh lớn Ta gắng trí khắc phục gian nan. Nhân dân bốn cõi một nhà, Dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới Tướng sĩ một lòng phụ tử, Hòa nước sông chén rượu ngọt ngào. Thế trận xuất kỳ, lấy yếu chống mạnh, Dùng quân mai phục, lấy ít địch nhiều. Trọn hay: Đem đại nghĩa để thắng hung tàn, Lấy chí nhân để thay cường bạọ Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật, Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay. Sĩ khí đã hăng quuân thanh càng mạnh. Trần Trí, Sơn Thọ nghe hơi mà mất vía, Lý An, Phương Chính, nín thở cầu thoát thân. Thừa thắng đuổi dài, Tây Kinh quân ta chiếm lại, Tuyển binh tiến đánh, Đông Đô đất cũ thu về. Ninh Kiều máu chảy thành sông, tanh hôi vạn dặm Tụy Động thây chất đầy nội, nhơ để ngàn năm. Phúc tâm quân giặc: Trần Hiệp đã phải bêu đầu Mọt gian kẻ thù: Lý Lượng cũng đành bỏ mạng. Vương Thông gỡ thế nguy, Mà đám lửa cháy lại càng cháy Mã Anh cứu trận đánh Mà quân ta hăng lại càng hăng. Bó tay để đợi bại vong, Giặc đã trí cùng lực kiệt, Chẳng đánh mà người chịu khuất, Ta đây mưu phạt tâm công. Tưởng chúng biết lẽ ăn năn Nên đã thay lòng đổi dạ Ngờ đâu vẫn đương mưu tính Lại còn chuốc tội gây oan. Giữ ý kiến một người, Gieo vạ cho bao nhiêu kẻ khác, Tham công danh một lúc, Để cười cho tất cả thế gian. Bởi thế: Thằng nhãi con Tuyên Đức động binh không ngừng Đồ nhút nhát Thạnh, Thăng đem dầu chữa cháy Đinh mùi tháng chín, Liễu Thăng đem binh từ Khâu Ôn kéo lại Năm ấy tháng mười, Mộc Thạnh chia đường từ Vân Nam tiến sang. Ta trước đã điều binh thủ hiểm, Chặt mũi tiên phong Sau lại sai tướng chẹn đường Tuyệt nguồn lương thực Ngày mười tháng tám, trận Chi Lăng, Liễu Thăng thất thế Ngày hai mươi, trận Mã Yên, Liễu Thăng cụt đầu Ngày hăm lăm, bá tước Lương Minh đại bại tử vong Ngày hăm tám, thượng thư Lý Khánh cùng kế tự vẫn. Thuận đà ta đưa lưỡi dao tung phá Bí nước giặc quay mũi giáo đánh nhau Lại thêm quân bốn mặt vây thành Hẹn đến giữa tháng mười diệt giặc Sĩ tốt kén người hùng hổ Bề tôi chọn kẻ vuốt nanh Gươm mài đá, đá núi cũng mòn Voi uống nước, nước sông phải cạn. Dánh một trận, sạch không kình ngạc Đánh hai trận tan tác chim muông. Cơn gió to trút sạch lá khô, Tổ kiến hổng sụt toang đê vỡ. Đô đốc Thôi Tụ lê gối dâng tờ tạ tội, Thượng thư Hoàng Phúc trói tay để tự xin hàng. Lạng Giang, Lạng Sơn, thây chất đầy đường Xương Giang, Bình Than, máu trôi đỏ nước Ghê gớm thay! Sắc phong vân phải đổi, Thảm đạm thay! Ánh nhật nguyệt phải mờ. Bị ta chặn ở Lê Hoa, Quân Vân Nam nghi ngờ, khiếp vía mà vỡ mật Nghe Thăng thua ở Cần Trạm, Quân Mộc Thạnh xéo lên nhau, chạy để thoát thân. Suối Lãnh Câu, máu chảy thành sông, Nước sông nghẹn ngào tiếng khóc Thành Đan Xá, thây chất thành núi, Cỏ nội đầm đìa máu đen. Cứu binh hai đạo tan tành, quay gót chẳng kịp, Quân giặc các thành khốn đốn, cởi giáp ra hàng Tướng giặc bị cầm tù, Như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng Thần vũ chẳng giết hại, Thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh Mã Kỳ, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền, Ra đến biển mà vẫn hồn bay phách lạc, Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa, Về đến nước mà vẫn tim đập chân run. Họ đã tham sống sợ chết mà hòa hiếu thực lòng Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức. Chẳng những mưu kế kì diệu Cũng là chưa thấy xưa nay Xã tắc từ đây vững bền Giang sơn từ đây đổi mới Càn khôn bĩ rồi lại thái Nhật nguyệt hối rồi lại minh Ngàn năm vết nhục nhã sạch làu Muôn thuở nền thái bình vững chắc Âu cũng nhờ trời đất tổ tông Linh thiêng đã lặng thầm phù trợ; Than ôi! Một cỗ nhung y chiến thắng, Nên công oanh liệt ngàn năm Bốn phương biển cả thanh bình, Ban chiếu duy tân khắp chốn. Xa gần bá cáo, Ai nấy đều hay.
Thứ Năm, 17 tháng 7, 2008
Đổi mới hệ thống chính trị
HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ VÀ ĐỔI MỚI HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ
Đinh Phan Quỳnh
ĐẶT VẤN ĐỀ.
Hệ thống chính trị là một trong những vấn đề cơ bản chi phối đến mọi mặt của đời sống chính trị xã hội của các quốc gia. Đây là vấn đề mang tính chất chính trị – pháp lý và khi nói về hệ thống chính trị thì cũng có những cách hiểu khác nhau. Hiện nay tồn tại ba cách tiếp cận hệ thống chính trị khác nhau, cụ thể như sau:
Cách tiếp cận thứ nhất: Xác định hệ thống chính trị như là một hệ thống về mặt tổ chức và chức năng của thiết chế đảng chính trị, nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội; về cách tiếp cận này chúng ta có thể nó được giới thiệu và phân tíc khá kỹ trong: “ Những vấn đề lý luận cơ bản về nhà nước và pháp luật” do nhà xuất bản Chính trị Quốc gia ấn hành năm 1995 do tác giả Đào Trí Úc chủ biên. Theo đó thì hệ thống chính trị thể hiện mối quan hệ giữa các thiết chế chính trị; các hoạt động chính trị, quyết định và hành vi chính trị; ý thức chính trị và hành vi chính trị.
Cách tiếp cận thứ hai: Hệ thống chính trị vừa bao gồm các bộ phận về mặt tổ chức, chức năng vừa bao gồm những yếu tố thể hiện bản chất của hệ thống chính trị và những điều kiện đảm bảo cho chúng vận hành một cách trơn tru.
Cách tiếp cận thứ ba: Theo đó thì hệ thống chính trị được hiểu như là một hệ thống cơ chế thực hiện quyền lực chính trị và quyền lực nhà nước. Hêï thống chính trị được hiểu về mặt nội dung của nền dân chủ, thể hiện quyền lực chính trị của nhân dân dưới nhiều hình thức, bao gồm các chế định dân chủ như: dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện.
Chúng ta thấy mỗi cách tiếp cận đề có những hạt nhân hợp lý của nó và thông qua đó cũng cho chúng ta thấy được tính chất phức tạp cũng như tầm quan trọng của hệ thống chính trị. Vậy hệ thống chính trị là gì, các nhà nghiên cứu về khoa học pháp lý Việt Nam định nghĩa như thế nào về hệ thống chính trị?. Theo quan điểm của đại đa số các nhà nghiên cứu về khoa học pháp lý ở Việt Nam thì hệ thống chính trị được hiểu như sau: “Hệ thống chính trị là một chỉnh thể thống nhất bao gồm các bộ phận cấu thành là các thiết chế chính trị có vị trí, vai trò khác nhau nhưng có quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình tham gia thực hiện quyền lực chính trị”. Từ cách hiểu về hệ thống chính trị như trên, giáo trình Luật Hiến pháp xuất bản năm 2005 của trường Đại học Luật Hà Nội đưa ra một định nghĩa như sau vè hệ thống chính trị : “Hệ thống chính trị là một cơ cấu bao gồm Nhà nước, các đảng phái, các tổ chức xã hội và chính trị tồn tại và hoạt động trong khuôn khổ pháp luật hiện hành, được chế định theo tư tưởng giai cấp cầm quyền nhằm tác động vào các quá trình kinh tế – xã hội với mục đích duy trì và phát triển chế độ đó”.
NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ VIỆT NAM.
Hệ thống chính trị Việt Nam ra đời sau Cách mạng tháng 8/ 1945 cùng với sự hình thành nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á. Hệ thống chính trị Việt Nambao gồm Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, Mặt trận tổ quốc và các tổ chức xã hội khác là thành viên của mặt trận tổ quốc như: Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội nông dân Việt Nam, Hội cựu chiến binh Việt Nam…. Xuất phát từ đặc thù của nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hệ thống chính trị Việt Nam có những đặc điểm cơ bản sau đây:
Thứ nhất: Hệ thống chính trị Việt Nam luôn đặt dưới sự lãnh đạo nhất quán của một chính đảng duy nhất đó là Đảng cộng sản Việt Nam, vì vậy mà hệ thống chính trị Việt Nam luôn có tính nhất nguyên chính trị. Nền tảng tư tưởng chung của cả hệ thống chính là chủ nghĩa Mác – Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, lấy mục tieu chủ nghĩa xã hội làm mục tiêu chung.
Thứ hai: Hệ thống chính trị Việt Nam là một hệ thống có tính nhân dân sâu sắc, điều này được thể hiện trong tổ chức và hoạt động của tất cả các thiết chế chính trị của hệ thống chính trị Việt Nam. Mọi thiết chế đều gắn liền với một tầng lớp nhân dân nhất định, hoạt động vì lợi ích của nhân dân, là nguồn sức mạnh của nhân dân.
Thứ ba: Hệ thống chính trị Việt Nam được tổ chức một cách chặt chẽ và khoa học, có sự phân định rõ vị trí, vai trò và chức năng cũng như nhiệm vụ của mỗi tổ chức. Các thành viên của hệ thống chính trị có địa vị pháp lý vững chắc theo quy định của Hiến pháp và pháp luật ví dụ như điều 9 – Hiến pháp 1992 quy định:
“Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo và người Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân. Mặt trận phát huy truyền thống đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân, tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, cùng Nhà nước chăm lo và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân, động viên nhân dân thực hiện quyền làm chủ, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp và pháp luật, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ, viên chức nhà nước.
Nhà nước tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên hoạt động có hiệu quả.". Và nội dung này đã được cụ thể hoá tại Luật Mặt trận tổ quốc 1999. Hay cũng tại Hiến pháp 1992 đã dành hẳn 1 điều (điều 10) quy định về vai trò của Công đoàn và chúng ta cũng đã có Luật Công đoàn; rồi Luật Thanh niên…
Thứ tư: Hệ thống chính trị được tổ chức rộng khắp và hoạt động theo nguyên tắc tạp trung dân chủ. Các thiết chế chính trị của hệ thống chính trị đều là những thiết chế của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện dân chủ sâu rộng trong hoạt động của mình phù hợp với xu thế dân chủ hoá đời sống xã hội đương đại trên cơ sở pháp luật:
“Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức và hoạt động theo Điều lệ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phù hợp với Hiến pháp và pháp luật.
Tổ chức, hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được thực hiện theo nguyên tắc tự nguyện, hiệp thương dân chủ, phối hợp và thống nhất hành động.
Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở mỗi cấp là cơ quan chấp hành của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp, do Đại hội đại biểu Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp đó hiệp thương cử ra, có trách nhiệm tổ chức thực hiện nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam”( Đ3-Luật MTTQ)
Thứ năm: Tính thống nhất về mục tiêu hoạt động cơ bản là phục vụ lợi ích nhân dân, dân tộc. Tính thống nhất của hệ thống chính trị dược bắt nguồn từ từ sự thống nhất về kinh tế, chính trị cũng như tư tưởng trong xã hội.
Thứ sáu: Các thành viên của hêï thống chính trị do Đảng cộng sản thành lập ra có lịch sử đấu tranh cách mạng vẻ vang, có vai trò to lớn trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước.
SỰ PHÁT TRIỂN CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ VIỆT NAM QUA CÁC BẢN HIẾN PHÁP
Như đã trình bày ở trên hệ thống chính trị Việt Nam ra đời sau Cách mạng tháng 8/ 1945 cùng với sự hình thành nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á. Hệ thống chính trị Việt Nam bao gồm Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, Mặt trận tổ quốc và các tổ chức xã hội khác là thành viên của mặt trận tổ quốc; qua các thời kỳ lịch sử của đất nước dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào hệ thống chính trị Việt Nam cũng phát huy được sức mạnh của mình và vị trí cũng như vai trò của hệ thống chính trị luôn được ghi nhận trong các bản Hiến pháp Việt Nam. Tất nhiên sự ghi nhận đó do xuất phát từ những điều kiện khách quan cũng như chủ quan cho có những điểm không giống nhau cụ thể:
Tại bản Hiến pháp đầu tiên, Hiến pháp 1946, do tình hình đất nước vào thời điểm đó đang cần phải tập trung được sức mạnh của mọi giai tầng, giai cấp để bảo vệ nhà nước Việt Nam non trẻ, cũng như làm công việc kiến thiết đất nước, nên chúng ta thấy Hiến pháp 1946 chưa quy định một cách cụ thể, rõ ràng về vị trí cũng như vai trò của các bộ phận hợp thành của hệ thống như là Đảng cộng sản hay Mặt trận tổ quốc như các bản Hiến pháp sau này. Tuy nhiên mặc dù không có sự ghi nhận một cách rõ ràng nhưng thông qua các điều luật, các chế định cũng đã phần nào thể hiện được vị trí cũng như vai trò quan trọng của các bộ phận của hệ thống như là một phần không thể thiếu bên cạnh thiết chế nhà nước.
Trong Hiến pháp 1959 cũng xuất phát từ tình hình đất nước vào thời điểm bấy giờ còn đang bị chia cắt hai miền nam – bắc, trong khi miền bắc đã tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội còn miền nam vẫn tiếp tục làm cuộc cách mạng giải phóng dân tộc dân chủ nhân dân, vì vậy Hiến pháp 1959 cũng chưa có những quy định cụ thể quy định về các bộ phận hợp thành của hệ thống, tuy nhiên cũng như Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959 cũng đã thể hiện được vai trò cũng như vị trí vô cùng quan trọng của các bộ phận này ví dụ như trong lời nói đầu của Hiến pháp 1959 đã khẳng định:
“Từ năm 1930, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, ngày nay là Đảng Lao động Việt Nam, cách mạng Việt Nam đã tiến lên một giai đoạn mới. Cuộc đấu tranh bền bỉ đầy gian khổ và hy sinh dũng cảm của nhân dân ta chống ách thống trị của đế quốc và phong kiên đá giành được thắng lợi vĩ đại: Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thành lập, ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố nước Việt Nam độc lập trước quốc dân và toàn thế giới. Lần đầu tiên trong lịch sử, nhân dân Việt Nam đã xây dựng một nước Việt Nam độc lập và dân chủ.”
Bắt đầu từ Hiến pháp 1980, Hiến pháp của một đất nước Việt Nam hoàn toàn thống nhất và tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội, Hiến pháp đã quy định một cách vô cùng cụ thể và rõ ràng vị trí, vai trò cũng như chức năng của cả hệ thống chính trị nói chung cũng như các bộ phận hợp thành của nó. Cụ thể trong Hiến pháp 1980, bên cạnh việc quy định những chức năng, nhiệm vụ của nhà nước, Hiến pháp đã dành hẳn 03 điều (4,9&10) quy định về vị trí cũng như vai trò của chúng trong hệ thống chính trị. Cụ thể điều 4 – Hiến pháp 1980 quy định:
“Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong và bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân Việt Nam, được vũ trang bằng học thuyết Mác - Lênin, là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội; là nhân tố chủ yếu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Đảng tồn tại và phấn đấu vì lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam.
Các tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp”
Còn tại điều 9 – Hiến pháp 1980 quy định:
“Mặt trận Tổ quốc Việt Nam - bao gồm các chính đảng, Tổng công đoàn Việt Nam, tổ chức liên hiệp nông dân tập thể Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam và các thành viên khác của Mặt trận - là chỗ dựa vững chắc của Nhà nước.
Mặt trận phát huy truyền thống đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân, tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, giáo dục và động viên nhân dân đề cao ý thức làm chủ tập thể, ra sức thi đua xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc.”
Điều 10 – Hiến pháp 1980 quy định:
“Tổng công đoàn Việt Nam là tổ chức quần chúng rộng lớn nhất của giai cấp công nhân Việt Nam, là trường học chủ nghĩa cộng sản, trường học quản lý kinh tế, quản lý Nhà nước.
Trong phạm vi chức năng của mình, công đoàn tham gia công việc Nhà nước và kiểm tra hoạt động của cơ quan Nhà nước, tham gia quản lý xí nghiệp; giáo dục công nhân, viên chức; tổ chức phong trào thi đua xã hội chủ nghĩa; cùng với cơ quan Nhà nước chăm lo đời sống và bảo đảm quyền lợi của công nhân, viên chức.”
Như vậy chúng ta thấy trong Hiến pháp 1980 đã quy định rất rõ về vị trí, vai trò cũng như chức năng của các bộ phận hợp thành khác của hệ thống chính trị bên cạnh nhà nước.
Hiến pháp 1992 (được sửa đổi bổ sung ngày 21/12/2001) – Hiến pháp của thời kỳ đổi mới và hội nhập, một lần nữa đã khẳng định tầm quan trọng của hệ thống chính trị Việt Nam trong mọi hoạt động của nhà nước và xã hội. Hiến pháp cũng đã có những quy định cụ thể và rõ ràng vè vai trò, nhiệm vụ của từng bộ phận hợp thành của hệ thống trong cscs điều luật cụ thể như điều 4; 9; 10…. Và theo quy định của Hiến pháp 1992, cũng như các văn bản quy phạm pháp luật khác, thì hệ thống chính trị Việt Nam bao gồm ba bộ phận hợp thành đó là: Đảng cộng sản Việt Nam; Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Mặt trận tổ quốc và các tổ chức thành viên mặt trận. Mỗi bộ phận hợp thành của hệ thống đều có những nhiệm vụ, quyền hạnh cũng như những đặc trưng của nó cụ thể như sau:
Thứ nhất: Đối với Đảng cộng sản Việt Nam:
Đảng cộng sản là một bộ phận cấu thành hệ thống chính trị, nằm trong hệ thống chính trị nhưng đảng là hạt nhân của hệ thống đó.
Việc xây dựng một xã hội không có người bóc lột người; một xã hội thực sự công bằng, dân chủ văn minh không thể không đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản vì:…
Sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước không những là một thực tế khách quan, mà nó còn được thể chế hoá vào trong nội dung Hiến pháp . Điều 4 – Hiến pháp 1992 khẳng định: “Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác - Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh”
Nội dung cơ bản của sự lãnh đạo của đảng đối với Nhà nước đã được vạch ra tại các kỳ đại hội của Đảng, được thể hiện thông qua các nghị quyết, bao gồm các mặt cơ bản sau:
+. Đảng đề ra đường lối chủ trương chính sách lớn, định hướng cho sự phát triển của toàn xã hội trên tất cả các lĩnh vực trong từng thời kỳ, giai đoạn nhất định.
+. Đảng vạch ra phương hướng và những nguyên tắc cơ bản nhằm xây dựng một bộ máy Nhà nước làm việc thực sự có hiệu quả, một bộ máy Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân
+. Đảng phát hiện, bồi dưỡng, lựa chọn những Đảng viên ưu tú và những người ngoài Đảng có phẩm chất và năng lực giới thiệu với cơ quan Nhà nước để thông qua cơ chế bầu cử, bổ nhiệm của Nhà nước bố trí vào công tác trong các cơ quan Nhà nước.
+. Đảng giáo dục Đảng viên nêu cao vai trò tiền phong, gương mẫu tập hợp quần chúng, giáo dục, động viên họ tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội; ủng hộ và tích cực thực hiện những đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, chấp hành tốt pháp luật của Nhà nước.
+. Đảng kiểm tra Đảng viên và các tổ chức của Đảng trong các cơ quan, tổ chức Nhà nước trong việc chấp hành và tổ chức thực hiện đường lối, chính sách, các nghị quyết của Đảng. Đồng thời theo dõi hoạt động của các cơ quan Nhà nước để phát hiện những sai lầm, lệch lạc để kịp thời chỉ đạo, uốn nắn. Tiến hành tổng kết rút kinh nghiệm để không ngừng bổ sung và hoàn thiện đường lối chính sách của Đảng trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội.
+. Tuy nhiên sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước chỉ là sự lãnh đạo chính trị mang tính định hướng, tạo điều kiện để Nhà nước có thể độc lập tổ chức bộ máy quản lý điều hành bằng những công cụ, biện pháp của Nhà nước
+. Sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước ở nước ta được ghi nhận trong đạo luật cơ bản của Nhà nước; còn ở các nước tư bản thì không có nước nào ghi nhận.
+. Chính nhờ có sự lãnh đạo nhất quán của Đảng, vì vậy hệ thống chính trị của nhà nước ta rất ổn định (được đánh giá là một trong ít quốc gia có hệ thống chính trị ổn định nhất trên thế giới – Pháp : trong vòng 12 năm, từ năm 1946(1958 “ thời đệ tứ cộng hoà” đã thay đổi Hiến pháp 26 lần).
+. Tuy nhiên cơ chế Đảng lãnh đạo bên cạnh những ưu việt của nó vẫn còn bộc lộ ít nhiều khiếm khuyết cần phải khắc phục. Như lời phát biểu của nguyên Tổng bí thư Đõ Mười tại Hội Nghị ban chấp hành trung ương Đảng khóa VII:
“ Trong điều kiện Đảng cầm quyền, nhiều Đảng viên được cử vào các cương vị khác nhau trong bộ máy Đảng, chính quyền, đoàn thể từ TW( cơ sở. Được trao quyền những nhất thiết không được lạm quyền, hết lòng phục vụ, mang lại lợi ích cho nhân dân, làm người đầy tớ trung thành của nhân dân, tuyệt đối không được quan cách, hách dịch, cửa quyền, ức hiếp dân, hà lạm công quỹ, tham ô, lãng phí tiền bạc của dân”
Thứ hai: Đối với nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà nước có một vị trí quan trọng trong hệ thống chính trị. Nhà nước giữ vị trí trung tâm (Trụ cột) của hệ thống chính trị vì quyền lực chính trị luôn được thể hiện một cách tập trung nhất thông qua quyền lực Nhà nước. Tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị luôn phải dựa trên cơ sở pháp luật do Nhà nước ban hành. Nhà nước là một bộ phận cấu thành hệ thống chính trị, là công cụ để thực hiện quyền lực nhân dân, giữ gìn trật tự kỷ cương và bảo đảm công bằng xã hội.
Vai trò to lớn của nhà nước không phải xuất phát từ sự áp đặt chủ quan mà xuất phát từ những cơ sở, điều kiện sau đây của nhà nước:
+. Nhà nước là đại diện chính thức cho toàn xã hội, có cơ sở xã hội rộng lớn để triển khai thực hiện các chính sách, pháp luật của nhà nước. Nhà nước có hệ thống các cơ quan đại diện rộng lớn từ trung ương đến địa phương, do nhân dân bầu nên, quyết định đối với hệ thống các cơ quan nhà nước còn lại. Mọi cá nhân trên lãnh thổ quốc gia đều chịu sự quản lý, tác động của nhà nước bằng các quy định pháp luật.
Nhà nước là chủ thể của quyền lực chính trị, công cụ chủ yếu để thực hiện quyền lực chính trị của nhân dân, có bộ máy làm chức năng quản lý xã hội, thực hiện các biện pháp cưỡng chế khác khi thấy cần thiết.
Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, bằng hêï thống pháp luật, các đường lối của Đảng, chính sách của nhà nước được thực hiện một cách thống nhất. Kết hợp với các phương tiện điều chỉnh xã hội khác, đặc biệt là đạo đức pháp luật giữ vai trò hàng đầu trong quản lý xã hội vì sự ổn định, trâït tự và phát triển của đất nước.
Nhà nước có chủ quyền tối cao trong đối nội và đối ngoại. Có bộ máy quyền lực và sức mạnh để bảo đảm thực hiện quyền lực chính trị và bảo vệ chế độ chính trị của Nhà nước. Trong hệ thống chính trị nhà nước là tổ chức duy nhất có quyền tham gia với tư cách là chủ thể của công pháp quốc tế.
Nhà nước là chủ sở hữu đối với những tư liệu quan trọng nhất. Nhà nước nắm trong tay nguồn cơ sở vật chất, tài chính to lớn, đảm bảo thực hiện các chức năng nhà nước, tạo điều kiện cho các tổ chức chính trị xã hội.
Tất cả những diều kiện, cơ sở trên thể hiện ưu thế, sức mạnh và vai trò của nhà nước đã khẳng định vị trí được biệt củ nhà nước trong hệ thống chính trị Việt Nam: nhà nước giữ vị trí trung tâm, trụ cột, là công cụ hùng mạnh của hệ thống chính trị.
Thứ ba: Đối với Mặt trận tổ quốc và các tổ chức thành viên mặt trận.
Điều 9 – Hiến pháp 1992 quy định:
“ Mặt trận tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo và người Việt nam định cư ở nước ngoài.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân. Mặt trận phát huy truyền thống đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân, tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, cùng Nhà nước chăm lo và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân, động viên nhân dân thực hiện quyền làm chủ, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp và pháp luật, giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ, viên chức Nhà nước.
Nhà nước tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên hoạt động có hiệu quả.”
Trong hệ thống chính trị nước ta, Mặt trận tổ quốc và các thành viên của mặt trận là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, có những nhiệm vụ quan trọng sau:
+. Mặt trận tổ quốc và các thành viên của nó tham gia vào việc hình thành ra các cơ quan nhà nước.
( Mặt trận tổ quốc chủ trì hội nghị hiệp thương với các tổ chức xã hội khác để giới thiệu những người ra ứng cử vào Quốc Hội và HĐND.
“Hội nghị hiệp thương lần thứ nhất ở Trung ương do Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức chậm nhất là bảy mươi lăm ngày trước ngày bầu cử, thành phần gồm Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đại diện Ban lãnh đạo các tổ chức thành viên của Mặt trận.
Hội nghị hiệp thương thoả thuận về cơ cấu, thành phần và số lượng người của cơ quan, tổ chức, đơn vị ở Trung ương được bầu làm đại biểu Quốc hội trên cơ sở dự kiến lần thứ nhất do Uỷ ban thường vụ Quốc hội gửi đến. Đại diện Hội đồng bầu cử, Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Chính phủ được mời dự Hội nghị này.
Biên bản Hội nghị hiệp thương phải ghi rõ thành phần, số lượng người tham dự, diễn biến, kết quả của Hội nghị và được gửi ngay đến Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Hội đồng bầu cử.” (Đ 30 – Luật Bầu cử Quốc Hội)
“Chậm nhất là bảy mươi ngày trước ngày bầu cử, Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân tổ chức hội nghị gồm đại diện các tổ chức thành viên để hiệp thương thoả thuận về cơ cấu, thành phần và số lượng người được đề cử của các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế và đơn vị vũ trang nhân dân đóng tại địa phương”. ( Đ 28 – Luật bầu cử HĐND).
Đại diện MTTQ và các tổ chức xã hội khác trong mặt trận là những thành viên trong các tổ chức bầu cử như tổ bầu cử, ban bầu cử, hội đồng bầu cử.
Có quyền đề nghị các cơ quan quyền lực Nhà nước bãi miễn các đại biểu không xứng đáng
+. Có quyền tham gia vào các hoạt động xây dựng pháp luật.
Có quyền trình các dự án Luật trước Quốc Hội, Pháp lệnh trước Ủy ban thường vụ Quốc Hội ( Tổng công đoàn; Đoàn thanh niên CSHCM…). Ví dụ: Đ5 Luật Công đoàn quy định:
“1- Trong phạm vi các vấn đề có liên quan trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ và lợi ích của người lao động, Tổng liên đoàn lao động Việt Nam có quyền trình dự án luật, pháp lệnh ra trước Quốc hội và Hội đồng Nhà nước.
2- Công đoàn tham gia với cơ quan Nhà nước xây dựng pháp luật, chính sách, chế độ về lao động, tiền lương, bảo hộ lao động và các chính sách xã hội khác liên quan trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ và lợi ích của người lao động.”…
+. Tham gia vào việc quản lý Nhà nước, kiểm tra, giám sát các hoạt động của các cơ quan nhà nước. Ví dụ: Đ2 – Luật Công đoàn quy định:
“1- Công đoàn đại diện và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; có trách nhiệm tham gia với Nhà nước phát triển sản xuất, giải quyết việc làm, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của người lao động.
2- Công đoàn đại diện và tổ chức người lao động tham gia quản lý cơ quan, đơn vị, tổ chức, quản lý kinh tế - xã hội, quản lý Nhà nước; trong phạm vi chức năng của mình, thực hiện quyền kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan, đơn vị, tổ chức theo quy định của pháp luật.
3- Công đoàn có trách nhiệm tổ chức, giáo dục, động viên người lao động phát huy vai trò làm chủ đất nước, thực hiện nghĩa vụ công dân, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.”
+. Ngoài các nhiệm vụ quan trọng như đã nêu trên, mặt trận TQ và các tổ chức thành viên còn tham gia tuyên truyền – giáo dục công dân ý thức chấp hành pháp luật, đấu tranh bảo vệ pháp luật, các quyền tự do, dân chủ của công dân. “Công đoàn đại diện và tổ chức người lao động tham gia với Nhà nước xây dựng và thực hiện chương trình phát triển kinh tế - xã hội, chính sách, cơ chế quản lý kinh tế, chủ trương, chính sách liên quan đến quyền, nghĩa vụ và lợi ích của người lao động”… ( Đ4 – Luật Công đoàn 1990)
Tóm lại: Trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ta – các tổ chức xã hội đóng một vai trò quan trọng. Cùng với các cơ quan quyền lực trong bộ máy nhà nước, các tổ chức xã hội là công cụ quan trọng để nhân dân lao động thực hiện quyền làm chủ của mình. Cùng với các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội tạo ra sức mạnh tổng hợp để nhân dân ta xây dựng một cuộc sống hạnh phúc, một xã hội phồn vinh.
Đinh Phan Quỳnh
ĐẶT VẤN ĐỀ.
Hệ thống chính trị là một trong những vấn đề cơ bản chi phối đến mọi mặt của đời sống chính trị xã hội của các quốc gia. Đây là vấn đề mang tính chất chính trị – pháp lý và khi nói về hệ thống chính trị thì cũng có những cách hiểu khác nhau. Hiện nay tồn tại ba cách tiếp cận hệ thống chính trị khác nhau, cụ thể như sau:
Cách tiếp cận thứ nhất: Xác định hệ thống chính trị như là một hệ thống về mặt tổ chức và chức năng của thiết chế đảng chính trị, nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội; về cách tiếp cận này chúng ta có thể nó được giới thiệu và phân tíc khá kỹ trong: “ Những vấn đề lý luận cơ bản về nhà nước và pháp luật” do nhà xuất bản Chính trị Quốc gia ấn hành năm 1995 do tác giả Đào Trí Úc chủ biên. Theo đó thì hệ thống chính trị thể hiện mối quan hệ giữa các thiết chế chính trị; các hoạt động chính trị, quyết định và hành vi chính trị; ý thức chính trị và hành vi chính trị.
Cách tiếp cận thứ hai: Hệ thống chính trị vừa bao gồm các bộ phận về mặt tổ chức, chức năng vừa bao gồm những yếu tố thể hiện bản chất của hệ thống chính trị và những điều kiện đảm bảo cho chúng vận hành một cách trơn tru.
Cách tiếp cận thứ ba: Theo đó thì hệ thống chính trị được hiểu như là một hệ thống cơ chế thực hiện quyền lực chính trị và quyền lực nhà nước. Hêï thống chính trị được hiểu về mặt nội dung của nền dân chủ, thể hiện quyền lực chính trị của nhân dân dưới nhiều hình thức, bao gồm các chế định dân chủ như: dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện.
Chúng ta thấy mỗi cách tiếp cận đề có những hạt nhân hợp lý của nó và thông qua đó cũng cho chúng ta thấy được tính chất phức tạp cũng như tầm quan trọng của hệ thống chính trị. Vậy hệ thống chính trị là gì, các nhà nghiên cứu về khoa học pháp lý Việt Nam định nghĩa như thế nào về hệ thống chính trị?. Theo quan điểm của đại đa số các nhà nghiên cứu về khoa học pháp lý ở Việt Nam thì hệ thống chính trị được hiểu như sau: “Hệ thống chính trị là một chỉnh thể thống nhất bao gồm các bộ phận cấu thành là các thiết chế chính trị có vị trí, vai trò khác nhau nhưng có quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình tham gia thực hiện quyền lực chính trị”. Từ cách hiểu về hệ thống chính trị như trên, giáo trình Luật Hiến pháp xuất bản năm 2005 của trường Đại học Luật Hà Nội đưa ra một định nghĩa như sau vè hệ thống chính trị : “Hệ thống chính trị là một cơ cấu bao gồm Nhà nước, các đảng phái, các tổ chức xã hội và chính trị tồn tại và hoạt động trong khuôn khổ pháp luật hiện hành, được chế định theo tư tưởng giai cấp cầm quyền nhằm tác động vào các quá trình kinh tế – xã hội với mục đích duy trì và phát triển chế độ đó”.
NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ VIỆT NAM.
Hệ thống chính trị Việt Nam ra đời sau Cách mạng tháng 8/ 1945 cùng với sự hình thành nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á. Hệ thống chính trị Việt Nambao gồm Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, Mặt trận tổ quốc và các tổ chức xã hội khác là thành viên của mặt trận tổ quốc như: Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội nông dân Việt Nam, Hội cựu chiến binh Việt Nam…. Xuất phát từ đặc thù của nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hệ thống chính trị Việt Nam có những đặc điểm cơ bản sau đây:
Thứ nhất: Hệ thống chính trị Việt Nam luôn đặt dưới sự lãnh đạo nhất quán của một chính đảng duy nhất đó là Đảng cộng sản Việt Nam, vì vậy mà hệ thống chính trị Việt Nam luôn có tính nhất nguyên chính trị. Nền tảng tư tưởng chung của cả hệ thống chính là chủ nghĩa Mác – Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, lấy mục tieu chủ nghĩa xã hội làm mục tiêu chung.
Thứ hai: Hệ thống chính trị Việt Nam là một hệ thống có tính nhân dân sâu sắc, điều này được thể hiện trong tổ chức và hoạt động của tất cả các thiết chế chính trị của hệ thống chính trị Việt Nam. Mọi thiết chế đều gắn liền với một tầng lớp nhân dân nhất định, hoạt động vì lợi ích của nhân dân, là nguồn sức mạnh của nhân dân.
Thứ ba: Hệ thống chính trị Việt Nam được tổ chức một cách chặt chẽ và khoa học, có sự phân định rõ vị trí, vai trò và chức năng cũng như nhiệm vụ của mỗi tổ chức. Các thành viên của hệ thống chính trị có địa vị pháp lý vững chắc theo quy định của Hiến pháp và pháp luật ví dụ như điều 9 – Hiến pháp 1992 quy định:
“Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo và người Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân. Mặt trận phát huy truyền thống đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân, tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, cùng Nhà nước chăm lo và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân, động viên nhân dân thực hiện quyền làm chủ, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp và pháp luật, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ, viên chức nhà nước.
Nhà nước tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên hoạt động có hiệu quả.". Và nội dung này đã được cụ thể hoá tại Luật Mặt trận tổ quốc 1999. Hay cũng tại Hiến pháp 1992 đã dành hẳn 1 điều (điều 10) quy định về vai trò của Công đoàn và chúng ta cũng đã có Luật Công đoàn; rồi Luật Thanh niên…
Thứ tư: Hệ thống chính trị được tổ chức rộng khắp và hoạt động theo nguyên tắc tạp trung dân chủ. Các thiết chế chính trị của hệ thống chính trị đều là những thiết chế của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện dân chủ sâu rộng trong hoạt động của mình phù hợp với xu thế dân chủ hoá đời sống xã hội đương đại trên cơ sở pháp luật:
“Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức và hoạt động theo Điều lệ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phù hợp với Hiến pháp và pháp luật.
Tổ chức, hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được thực hiện theo nguyên tắc tự nguyện, hiệp thương dân chủ, phối hợp và thống nhất hành động.
Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở mỗi cấp là cơ quan chấp hành của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp, do Đại hội đại biểu Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp đó hiệp thương cử ra, có trách nhiệm tổ chức thực hiện nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam”( Đ3-Luật MTTQ)
Thứ năm: Tính thống nhất về mục tiêu hoạt động cơ bản là phục vụ lợi ích nhân dân, dân tộc. Tính thống nhất của hệ thống chính trị dược bắt nguồn từ từ sự thống nhất về kinh tế, chính trị cũng như tư tưởng trong xã hội.
Thứ sáu: Các thành viên của hêï thống chính trị do Đảng cộng sản thành lập ra có lịch sử đấu tranh cách mạng vẻ vang, có vai trò to lớn trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước.
SỰ PHÁT TRIỂN CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ VIỆT NAM QUA CÁC BẢN HIẾN PHÁP
Như đã trình bày ở trên hệ thống chính trị Việt Nam ra đời sau Cách mạng tháng 8/ 1945 cùng với sự hình thành nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á. Hệ thống chính trị Việt Nam bao gồm Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, Mặt trận tổ quốc và các tổ chức xã hội khác là thành viên của mặt trận tổ quốc; qua các thời kỳ lịch sử của đất nước dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào hệ thống chính trị Việt Nam cũng phát huy được sức mạnh của mình và vị trí cũng như vai trò của hệ thống chính trị luôn được ghi nhận trong các bản Hiến pháp Việt Nam. Tất nhiên sự ghi nhận đó do xuất phát từ những điều kiện khách quan cũng như chủ quan cho có những điểm không giống nhau cụ thể:
Tại bản Hiến pháp đầu tiên, Hiến pháp 1946, do tình hình đất nước vào thời điểm đó đang cần phải tập trung được sức mạnh của mọi giai tầng, giai cấp để bảo vệ nhà nước Việt Nam non trẻ, cũng như làm công việc kiến thiết đất nước, nên chúng ta thấy Hiến pháp 1946 chưa quy định một cách cụ thể, rõ ràng về vị trí cũng như vai trò của các bộ phận hợp thành của hệ thống như là Đảng cộng sản hay Mặt trận tổ quốc như các bản Hiến pháp sau này. Tuy nhiên mặc dù không có sự ghi nhận một cách rõ ràng nhưng thông qua các điều luật, các chế định cũng đã phần nào thể hiện được vị trí cũng như vai trò quan trọng của các bộ phận của hệ thống như là một phần không thể thiếu bên cạnh thiết chế nhà nước.
Trong Hiến pháp 1959 cũng xuất phát từ tình hình đất nước vào thời điểm bấy giờ còn đang bị chia cắt hai miền nam – bắc, trong khi miền bắc đã tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội còn miền nam vẫn tiếp tục làm cuộc cách mạng giải phóng dân tộc dân chủ nhân dân, vì vậy Hiến pháp 1959 cũng chưa có những quy định cụ thể quy định về các bộ phận hợp thành của hệ thống, tuy nhiên cũng như Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959 cũng đã thể hiện được vai trò cũng như vị trí vô cùng quan trọng của các bộ phận này ví dụ như trong lời nói đầu của Hiến pháp 1959 đã khẳng định:
“Từ năm 1930, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, ngày nay là Đảng Lao động Việt Nam, cách mạng Việt Nam đã tiến lên một giai đoạn mới. Cuộc đấu tranh bền bỉ đầy gian khổ và hy sinh dũng cảm của nhân dân ta chống ách thống trị của đế quốc và phong kiên đá giành được thắng lợi vĩ đại: Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thành lập, ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố nước Việt Nam độc lập trước quốc dân và toàn thế giới. Lần đầu tiên trong lịch sử, nhân dân Việt Nam đã xây dựng một nước Việt Nam độc lập và dân chủ.”
Bắt đầu từ Hiến pháp 1980, Hiến pháp của một đất nước Việt Nam hoàn toàn thống nhất và tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội, Hiến pháp đã quy định một cách vô cùng cụ thể và rõ ràng vị trí, vai trò cũng như chức năng của cả hệ thống chính trị nói chung cũng như các bộ phận hợp thành của nó. Cụ thể trong Hiến pháp 1980, bên cạnh việc quy định những chức năng, nhiệm vụ của nhà nước, Hiến pháp đã dành hẳn 03 điều (4,9&10) quy định về vị trí cũng như vai trò của chúng trong hệ thống chính trị. Cụ thể điều 4 – Hiến pháp 1980 quy định:
“Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong và bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân Việt Nam, được vũ trang bằng học thuyết Mác - Lênin, là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội; là nhân tố chủ yếu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Đảng tồn tại và phấn đấu vì lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam.
Các tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp”
Còn tại điều 9 – Hiến pháp 1980 quy định:
“Mặt trận Tổ quốc Việt Nam - bao gồm các chính đảng, Tổng công đoàn Việt Nam, tổ chức liên hiệp nông dân tập thể Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam và các thành viên khác của Mặt trận - là chỗ dựa vững chắc của Nhà nước.
Mặt trận phát huy truyền thống đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân, tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, giáo dục và động viên nhân dân đề cao ý thức làm chủ tập thể, ra sức thi đua xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc.”
Điều 10 – Hiến pháp 1980 quy định:
“Tổng công đoàn Việt Nam là tổ chức quần chúng rộng lớn nhất của giai cấp công nhân Việt Nam, là trường học chủ nghĩa cộng sản, trường học quản lý kinh tế, quản lý Nhà nước.
Trong phạm vi chức năng của mình, công đoàn tham gia công việc Nhà nước và kiểm tra hoạt động của cơ quan Nhà nước, tham gia quản lý xí nghiệp; giáo dục công nhân, viên chức; tổ chức phong trào thi đua xã hội chủ nghĩa; cùng với cơ quan Nhà nước chăm lo đời sống và bảo đảm quyền lợi của công nhân, viên chức.”
Như vậy chúng ta thấy trong Hiến pháp 1980 đã quy định rất rõ về vị trí, vai trò cũng như chức năng của các bộ phận hợp thành khác của hệ thống chính trị bên cạnh nhà nước.
Hiến pháp 1992 (được sửa đổi bổ sung ngày 21/12/2001) – Hiến pháp của thời kỳ đổi mới và hội nhập, một lần nữa đã khẳng định tầm quan trọng của hệ thống chính trị Việt Nam trong mọi hoạt động của nhà nước và xã hội. Hiến pháp cũng đã có những quy định cụ thể và rõ ràng vè vai trò, nhiệm vụ của từng bộ phận hợp thành của hệ thống trong cscs điều luật cụ thể như điều 4; 9; 10…. Và theo quy định của Hiến pháp 1992, cũng như các văn bản quy phạm pháp luật khác, thì hệ thống chính trị Việt Nam bao gồm ba bộ phận hợp thành đó là: Đảng cộng sản Việt Nam; Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Mặt trận tổ quốc và các tổ chức thành viên mặt trận. Mỗi bộ phận hợp thành của hệ thống đều có những nhiệm vụ, quyền hạnh cũng như những đặc trưng của nó cụ thể như sau:
Thứ nhất: Đối với Đảng cộng sản Việt Nam:
Đảng cộng sản là một bộ phận cấu thành hệ thống chính trị, nằm trong hệ thống chính trị nhưng đảng là hạt nhân của hệ thống đó.
Việc xây dựng một xã hội không có người bóc lột người; một xã hội thực sự công bằng, dân chủ văn minh không thể không đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản vì:…
Sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước không những là một thực tế khách quan, mà nó còn được thể chế hoá vào trong nội dung Hiến pháp . Điều 4 – Hiến pháp 1992 khẳng định: “Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác - Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh”
Nội dung cơ bản của sự lãnh đạo của đảng đối với Nhà nước đã được vạch ra tại các kỳ đại hội của Đảng, được thể hiện thông qua các nghị quyết, bao gồm các mặt cơ bản sau:
+. Đảng đề ra đường lối chủ trương chính sách lớn, định hướng cho sự phát triển của toàn xã hội trên tất cả các lĩnh vực trong từng thời kỳ, giai đoạn nhất định.
+. Đảng vạch ra phương hướng và những nguyên tắc cơ bản nhằm xây dựng một bộ máy Nhà nước làm việc thực sự có hiệu quả, một bộ máy Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân
+. Đảng phát hiện, bồi dưỡng, lựa chọn những Đảng viên ưu tú và những người ngoài Đảng có phẩm chất và năng lực giới thiệu với cơ quan Nhà nước để thông qua cơ chế bầu cử, bổ nhiệm của Nhà nước bố trí vào công tác trong các cơ quan Nhà nước.
+. Đảng giáo dục Đảng viên nêu cao vai trò tiền phong, gương mẫu tập hợp quần chúng, giáo dục, động viên họ tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội; ủng hộ và tích cực thực hiện những đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, chấp hành tốt pháp luật của Nhà nước.
+. Đảng kiểm tra Đảng viên và các tổ chức của Đảng trong các cơ quan, tổ chức Nhà nước trong việc chấp hành và tổ chức thực hiện đường lối, chính sách, các nghị quyết của Đảng. Đồng thời theo dõi hoạt động của các cơ quan Nhà nước để phát hiện những sai lầm, lệch lạc để kịp thời chỉ đạo, uốn nắn. Tiến hành tổng kết rút kinh nghiệm để không ngừng bổ sung và hoàn thiện đường lối chính sách của Đảng trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội.
+. Tuy nhiên sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước chỉ là sự lãnh đạo chính trị mang tính định hướng, tạo điều kiện để Nhà nước có thể độc lập tổ chức bộ máy quản lý điều hành bằng những công cụ, biện pháp của Nhà nước
+. Sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước ở nước ta được ghi nhận trong đạo luật cơ bản của Nhà nước; còn ở các nước tư bản thì không có nước nào ghi nhận.
+. Chính nhờ có sự lãnh đạo nhất quán của Đảng, vì vậy hệ thống chính trị của nhà nước ta rất ổn định (được đánh giá là một trong ít quốc gia có hệ thống chính trị ổn định nhất trên thế giới – Pháp : trong vòng 12 năm, từ năm 1946(1958 “ thời đệ tứ cộng hoà” đã thay đổi Hiến pháp 26 lần).
+. Tuy nhiên cơ chế Đảng lãnh đạo bên cạnh những ưu việt của nó vẫn còn bộc lộ ít nhiều khiếm khuyết cần phải khắc phục. Như lời phát biểu của nguyên Tổng bí thư Đõ Mười tại Hội Nghị ban chấp hành trung ương Đảng khóa VII:
“ Trong điều kiện Đảng cầm quyền, nhiều Đảng viên được cử vào các cương vị khác nhau trong bộ máy Đảng, chính quyền, đoàn thể từ TW( cơ sở. Được trao quyền những nhất thiết không được lạm quyền, hết lòng phục vụ, mang lại lợi ích cho nhân dân, làm người đầy tớ trung thành của nhân dân, tuyệt đối không được quan cách, hách dịch, cửa quyền, ức hiếp dân, hà lạm công quỹ, tham ô, lãng phí tiền bạc của dân”
Thứ hai: Đối với nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà nước có một vị trí quan trọng trong hệ thống chính trị. Nhà nước giữ vị trí trung tâm (Trụ cột) của hệ thống chính trị vì quyền lực chính trị luôn được thể hiện một cách tập trung nhất thông qua quyền lực Nhà nước. Tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị luôn phải dựa trên cơ sở pháp luật do Nhà nước ban hành. Nhà nước là một bộ phận cấu thành hệ thống chính trị, là công cụ để thực hiện quyền lực nhân dân, giữ gìn trật tự kỷ cương và bảo đảm công bằng xã hội.
Vai trò to lớn của nhà nước không phải xuất phát từ sự áp đặt chủ quan mà xuất phát từ những cơ sở, điều kiện sau đây của nhà nước:
+. Nhà nước là đại diện chính thức cho toàn xã hội, có cơ sở xã hội rộng lớn để triển khai thực hiện các chính sách, pháp luật của nhà nước. Nhà nước có hệ thống các cơ quan đại diện rộng lớn từ trung ương đến địa phương, do nhân dân bầu nên, quyết định đối với hệ thống các cơ quan nhà nước còn lại. Mọi cá nhân trên lãnh thổ quốc gia đều chịu sự quản lý, tác động của nhà nước bằng các quy định pháp luật.
Nhà nước là chủ thể của quyền lực chính trị, công cụ chủ yếu để thực hiện quyền lực chính trị của nhân dân, có bộ máy làm chức năng quản lý xã hội, thực hiện các biện pháp cưỡng chế khác khi thấy cần thiết.
Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, bằng hêï thống pháp luật, các đường lối của Đảng, chính sách của nhà nước được thực hiện một cách thống nhất. Kết hợp với các phương tiện điều chỉnh xã hội khác, đặc biệt là đạo đức pháp luật giữ vai trò hàng đầu trong quản lý xã hội vì sự ổn định, trâït tự và phát triển của đất nước.
Nhà nước có chủ quyền tối cao trong đối nội và đối ngoại. Có bộ máy quyền lực và sức mạnh để bảo đảm thực hiện quyền lực chính trị và bảo vệ chế độ chính trị của Nhà nước. Trong hệ thống chính trị nhà nước là tổ chức duy nhất có quyền tham gia với tư cách là chủ thể của công pháp quốc tế.
Nhà nước là chủ sở hữu đối với những tư liệu quan trọng nhất. Nhà nước nắm trong tay nguồn cơ sở vật chất, tài chính to lớn, đảm bảo thực hiện các chức năng nhà nước, tạo điều kiện cho các tổ chức chính trị xã hội.
Tất cả những diều kiện, cơ sở trên thể hiện ưu thế, sức mạnh và vai trò của nhà nước đã khẳng định vị trí được biệt củ nhà nước trong hệ thống chính trị Việt Nam: nhà nước giữ vị trí trung tâm, trụ cột, là công cụ hùng mạnh của hệ thống chính trị.
Thứ ba: Đối với Mặt trận tổ quốc và các tổ chức thành viên mặt trận.
Điều 9 – Hiến pháp 1992 quy định:
“ Mặt trận tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo và người Việt nam định cư ở nước ngoài.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân. Mặt trận phát huy truyền thống đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân, tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, cùng Nhà nước chăm lo và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân, động viên nhân dân thực hiện quyền làm chủ, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp và pháp luật, giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ, viên chức Nhà nước.
Nhà nước tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên hoạt động có hiệu quả.”
Trong hệ thống chính trị nước ta, Mặt trận tổ quốc và các thành viên của mặt trận là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, có những nhiệm vụ quan trọng sau:
+. Mặt trận tổ quốc và các thành viên của nó tham gia vào việc hình thành ra các cơ quan nhà nước.
( Mặt trận tổ quốc chủ trì hội nghị hiệp thương với các tổ chức xã hội khác để giới thiệu những người ra ứng cử vào Quốc Hội và HĐND.
“Hội nghị hiệp thương lần thứ nhất ở Trung ương do Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức chậm nhất là bảy mươi lăm ngày trước ngày bầu cử, thành phần gồm Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đại diện Ban lãnh đạo các tổ chức thành viên của Mặt trận.
Hội nghị hiệp thương thoả thuận về cơ cấu, thành phần và số lượng người của cơ quan, tổ chức, đơn vị ở Trung ương được bầu làm đại biểu Quốc hội trên cơ sở dự kiến lần thứ nhất do Uỷ ban thường vụ Quốc hội gửi đến. Đại diện Hội đồng bầu cử, Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Chính phủ được mời dự Hội nghị này.
Biên bản Hội nghị hiệp thương phải ghi rõ thành phần, số lượng người tham dự, diễn biến, kết quả của Hội nghị và được gửi ngay đến Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Hội đồng bầu cử.” (Đ 30 – Luật Bầu cử Quốc Hội)
“Chậm nhất là bảy mươi ngày trước ngày bầu cử, Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân tổ chức hội nghị gồm đại diện các tổ chức thành viên để hiệp thương thoả thuận về cơ cấu, thành phần và số lượng người được đề cử của các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế và đơn vị vũ trang nhân dân đóng tại địa phương”. ( Đ 28 – Luật bầu cử HĐND).
Đại diện MTTQ và các tổ chức xã hội khác trong mặt trận là những thành viên trong các tổ chức bầu cử như tổ bầu cử, ban bầu cử, hội đồng bầu cử.
Có quyền đề nghị các cơ quan quyền lực Nhà nước bãi miễn các đại biểu không xứng đáng
+. Có quyền tham gia vào các hoạt động xây dựng pháp luật.
Có quyền trình các dự án Luật trước Quốc Hội, Pháp lệnh trước Ủy ban thường vụ Quốc Hội ( Tổng công đoàn; Đoàn thanh niên CSHCM…). Ví dụ: Đ5 Luật Công đoàn quy định:
“1- Trong phạm vi các vấn đề có liên quan trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ và lợi ích của người lao động, Tổng liên đoàn lao động Việt Nam có quyền trình dự án luật, pháp lệnh ra trước Quốc hội và Hội đồng Nhà nước.
2- Công đoàn tham gia với cơ quan Nhà nước xây dựng pháp luật, chính sách, chế độ về lao động, tiền lương, bảo hộ lao động và các chính sách xã hội khác liên quan trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ và lợi ích của người lao động.”…
+. Tham gia vào việc quản lý Nhà nước, kiểm tra, giám sát các hoạt động của các cơ quan nhà nước. Ví dụ: Đ2 – Luật Công đoàn quy định:
“1- Công đoàn đại diện và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; có trách nhiệm tham gia với Nhà nước phát triển sản xuất, giải quyết việc làm, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của người lao động.
2- Công đoàn đại diện và tổ chức người lao động tham gia quản lý cơ quan, đơn vị, tổ chức, quản lý kinh tế - xã hội, quản lý Nhà nước; trong phạm vi chức năng của mình, thực hiện quyền kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan, đơn vị, tổ chức theo quy định của pháp luật.
3- Công đoàn có trách nhiệm tổ chức, giáo dục, động viên người lao động phát huy vai trò làm chủ đất nước, thực hiện nghĩa vụ công dân, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.”
+. Ngoài các nhiệm vụ quan trọng như đã nêu trên, mặt trận TQ và các tổ chức thành viên còn tham gia tuyên truyền – giáo dục công dân ý thức chấp hành pháp luật, đấu tranh bảo vệ pháp luật, các quyền tự do, dân chủ của công dân. “Công đoàn đại diện và tổ chức người lao động tham gia với Nhà nước xây dựng và thực hiện chương trình phát triển kinh tế - xã hội, chính sách, cơ chế quản lý kinh tế, chủ trương, chính sách liên quan đến quyền, nghĩa vụ và lợi ích của người lao động”… ( Đ4 – Luật Công đoàn 1990)
Tóm lại: Trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ta – các tổ chức xã hội đóng một vai trò quan trọng. Cùng với các cơ quan quyền lực trong bộ máy nhà nước, các tổ chức xã hội là công cụ quan trọng để nhân dân lao động thực hiện quyền làm chủ của mình. Cùng với các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội tạo ra sức mạnh tổng hợp để nhân dân ta xây dựng một cuộc sống hạnh phúc, một xã hội phồn vinh.
Một số gợi ý tự học; chủ đề thuyết trình môn Luật Hiến pháp
Chương I: Khoa học Luật Nhà nước và Ngành luật Nhà nước
Phần 1: Câu hỏi nghiên cứu tự học
1. Tìm hiểu về đối tượng nghiên cứu của khoa học Luật nhà nước, từ đó chỉ rõ mục tiêu của hoạt động nghiên cứu này.
2. Mối quan hệ giữa khoa học Luật nhà nước với các ngành khoa học pháp lý khác.
3. Hãy nêu những cơ sở lý luận của khoa học luật Nhà nước.
4. Tìm hiểu về đối tượng điều chỉnh của ngành Luật nhà nước ( các quan hệ xã hội được ngành luật điều chỉnh)
5. Nêu các phương pháp điều chỉnh của ngành Luật nhà nước . Tại sao ngành luật này lại sử dụng các phương pháp điều chỉnh đó?
6. Các điều kiện để trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật ngành luật nhà nước. Tại sao lại nói “ nhân dân” và “ Đại biểu Quốc hội; Đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp” là chủ thể đặc biệt của quan hệ pháp luật Luật nhà nước?
7. Nêu và phân tích các đặc điểm của quy phạm pháp luật ngành luật Nhà nước.
8. Khách thể của quan hệ pháp luật Luật Nhà nước.
9. Tại sao nói Luật nhà nước là ngành luật chủ đạo trong hệ thống pháp luật Việt Nam?.
10. Tại sao nói Hiến pháp là nguồn cơ bản của Luật Nhà nước
Phần 2: Câu hỏi nhận định ( các nhận định sau đúng hay sai? Tại sao?)
1. Vấn đề tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước là đối tượng nghiên cứu duy nhất của ngành luật Nhà nước?
2. Các phương pháp điều chỉnh được ngành Luật nhà nước sử dụng là những phương pháp đặc thù?
3. Phương pháp điều chỉnh “ xác lập, định hướng” là phương pháp duy nhất được ngành luật nhà nước sử dụng?
4. Các quy phạm pháp luật của ngành luật nhà nước đều không đủ 3 bộ phận cấu thành.
5. Những người là đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp” chỉ tham gia vào quan hệ pháp luật của ngành luật nhà nước.
6. Các văn bản chứa đựng quy phạm pháp luật của ngành luật nhà nước đều có thể trở thành nguồn của ngành luật nhà nước.
7. Các tác phẩm kinh điển, các bài viết , quan điểm của các nhà lãnh đạo Đảng và nhà nước là nguồn quan trọng của Luật nhà nước.
8. Khách thể của các quan hệ pháp luật Luật nhà nước là những khách thể quan trọng nhất.
9. Đối tượng điều chỉnh của ngành luật nhà nước là những quan hệ xã hội cơ bản và quan trọng nhất.
10. Các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật Luật nhà nước đều bình đẳng với nhau về quyền lợi và nghĩa vụ.
11. Các tổ chức xã hội được thành lập theo đúng những quy định của pháp luật đều là chủ thể của các quan hệ pháp luật ngành luật nhà nước
12. Vấn đề tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước chỉ được điều chỉnh bởi các quy phạm của ngành luật Nhà nước.
Phần 3. Câu hỏi thuyết trình nhóm.
Luật nhà nước một ngành luật cơ bản trong hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia.
Chương 2: HIẾN PHÁP
· Lịch sử lập hiến.
Phần 1. Câu hỏi nghiên cứu tự học
1. Các nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự ra đời của Hiến pháp
2. Phân loại Hiến pháp và các tiêu trí để phân loại Hiến pháp (cho ví dụ)
3. Hoàn cảnh ra đời các văn bản “tiền Hiến pháp” trên thế giới.
4. Hiến pháp một loại văn bản hạn chế quyền lực nhà nước.
5. Bàn về tinh thần luật pháp (De l’esprit des lois) của Montesquieu và cơ chế phân công, phân nhiệm trong tổ chức bộ máy nhà nước ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.[1]
6. Nội dung thuyết khế ước xã hội của Rousseau trong Bàn về khế ước xã hội (Du contrat social).[2]
7. Các giai đoạn phát triển của Hiến pháp trong xã hội tư sản
8. Các đặc trưng của Hiến pháp
9. Hiến pháp xã hội chủ nghĩa, sự ra đời và phát triển
10. Hiến pháp không thành văn và giá trị của nó trong lịch sử lập hiến thế giới.
11. Tổ chức nhà nước và vấn đề Hiến pháp
12. Những điểm khác biệt cơ bản giữa Hiến pháp xã hội chủ nghĩa và Hiến pháp tư sản.
13. Chế độ bảo hiến và các mô hình bảo hiến hiện nay trên thế giới.
14. Hiến pháp và sự ra đời của nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở khu vực Đông nam á.
15. Sự ảnh hưởng của các trào lưu dân chủ trên thế giới tới sự xuất hiện của các tư tưởng về lập hiến ở Việt Nam.
16. Nội dung quan điểm “ Ỷ Pháp cầu tiến bộ” của Phan Chu Trinh và tác động của nó đến việc hình thành các quan điểm về lập hiến của tầng lớp tiểu tư sản ở Việt Nam trước tháng 8/1945.
17. Nội dung cơ bản, hoàn cảnh ra đời của các bản Hiến pháp Việt Nam trong lịch sử.
18. Tư tưởng xuyên suốt trong lịch sử lập hiến Việt Nam.
Phần 2. Câu hỏi nhận định( các nhận định sau đúng hay sai? Tại sao?)
1. Nội dung ban đầu của giai cấp tư sản trong khẩu hiệu lập hiến là : Đánh đổ sự thống trị của giai cấp phong kiến, thành lập nhà nước cộng hòa tư sản.
2. Văn bản có tính “ hiến chương” đầu tiên trên thế giới là văn bản quy định về quyền và nghĩa vụ của các đơn vị hành chính ở Anh.
3. Tất cả các bản Hiến pháp cổ điển đều là Hiến pháp không thành văn.
4. Hiến pháp luôn được thông qua bởi Quốc hội lập hiến.
5. Theo học thuyết phân chia quyền lực của Montesquieu thì cành quyền lực hành pháp luôn là một cành quyền lực có “ thực quyền”.
6. Các bản hiến pháp trên thế giới luôn được coi là đạo luật cơ bản của nhà nước.
7. Việc giai cấp tư sản ban hành Hiến pháp sau khi đã giành được quyền lực chính trị đã bảo đảm được quyền lợi của giai cấp tư sản.
8. Việc trước cách mạng tháng 8/1945 ở Việt Nam chưa thể có Hiến pháp là do chúng ta chưa có độc lập tự do.
9. Hiến pháp 1946 là bản Hiến pháp xã hội chủ nghĩa đầu tiên ở khu vực Đông nam á.
10. Theo quy định của Hiến pháp 1946 thì Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có quyền miễn trừ tư pháp tuyệt đối.
11. Hiến pháp 1959 là bản hiến pháp có số lượng cương điều ít nhất trong các bản hiến pháp Việt Nam và Hiến pháp 1992 là bản hiến pháp có số lượng chương điều nhiều nhất.
12. Nhiệm kỳ của Nghị viện trong hiến pháp 1946 bằng với nhiệm kỳ của Chủ tịch nước.
Phần 3. Câu hỏi thuyết trình nhóm.
1. Học thuyết phân chia quyền lực và sự ảnh hưởng của chúng đến nội dung các Hiến pháp tư sản.
2. Chính thể Nhà nước trong hiến pháp 1946 sự sáng tạo tài tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
3. Hạn chế quyền lực nhà nước, lý do của sự ra đời Hiến pháp.
- Chế độ chính trị
Phần 1. Câu hỏi nghiên cứu tự học.
1. Chế độ chính trị theo quy định của Hiến pháp hiện hành
2. Đặc điểm của nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
3. Đặc điểm của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
4. Vai trò lãnh đạo của Đảng qua các bản Hiến pháp
5. Vị trí, vai trò của mặt trận tổ quốc trong hệ thống chính trị Việt Nam.
Phần 2. Câu hỏi nhận định (trả lời đúng sai và giải thích)
1. Chế độ chính trị dân chủ chỉ có ở các nhà nước xã hội chủ nghĩa.
2. Chế độ chính trị là một chế định pháp luật được đề ra để giải quyết vấn đề quyền lực nhà nước.
3. Chế độ chính trị có hai loại đó là: Chế độ chính trị dân chủ và chế độ chính trị phản dân chủ.
4. Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân là bản chất xuyên suốt của nhà nước Việt Nam qua các thời kỳ.
5. Quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân có nghĩa là tất cả quyền lực nhà nước đều tập trung và thống nhất vào nhân dân.
6. Đảng cộng sản Việt Nam là bộ phận lãnh đạo hệ thống chính trị Việt Nam.
7. Mặt trận tổ quốc Việt Nam có quyền quyết định về cơ cấu, số lượng đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp.
8. Mặt trận tổ quốc Việt Nam có quyền trình các kiến nghị về luật ra trước Quốc hội.
9. Các tổ chức thành viên của mặt trận đều có quyền tham gia vào hoạt động hình thành ra các cơ quan trong bộ máy nhà nước.
Phần 3. Câu hỏi thuyết trình nhóm.
1. Vai trò, vị trí của hệ thống chính trị Việt Nam qua các bản Hiến pháp. Những biện pháp chủ yếu để ncao vai trò của hệ thống trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
2. Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng trong hệ thống chính trị - một biện pháp quan trọng để tăng cường hiệu quả hoạt động của toàn hệ thống.
[1] Montesquieu - Bàn về tinh thần luật pháp (Bản dịch của Hoàng Thanh Đạm – NXB Tư pháp 2006)
[2] Russeau – Bàn về khế ước xã hội – NXB Thành phố Hồ Chí Minh 2001
Phần 1: Câu hỏi nghiên cứu tự học
1. Tìm hiểu về đối tượng nghiên cứu của khoa học Luật nhà nước, từ đó chỉ rõ mục tiêu của hoạt động nghiên cứu này.
2. Mối quan hệ giữa khoa học Luật nhà nước với các ngành khoa học pháp lý khác.
3. Hãy nêu những cơ sở lý luận của khoa học luật Nhà nước.
4. Tìm hiểu về đối tượng điều chỉnh của ngành Luật nhà nước ( các quan hệ xã hội được ngành luật điều chỉnh)
5. Nêu các phương pháp điều chỉnh của ngành Luật nhà nước . Tại sao ngành luật này lại sử dụng các phương pháp điều chỉnh đó?
6. Các điều kiện để trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật ngành luật nhà nước. Tại sao lại nói “ nhân dân” và “ Đại biểu Quốc hội; Đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp” là chủ thể đặc biệt của quan hệ pháp luật Luật nhà nước?
7. Nêu và phân tích các đặc điểm của quy phạm pháp luật ngành luật Nhà nước.
8. Khách thể của quan hệ pháp luật Luật Nhà nước.
9. Tại sao nói Luật nhà nước là ngành luật chủ đạo trong hệ thống pháp luật Việt Nam?.
10. Tại sao nói Hiến pháp là nguồn cơ bản của Luật Nhà nước
Phần 2: Câu hỏi nhận định ( các nhận định sau đúng hay sai? Tại sao?)
1. Vấn đề tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước là đối tượng nghiên cứu duy nhất của ngành luật Nhà nước?
2. Các phương pháp điều chỉnh được ngành Luật nhà nước sử dụng là những phương pháp đặc thù?
3. Phương pháp điều chỉnh “ xác lập, định hướng” là phương pháp duy nhất được ngành luật nhà nước sử dụng?
4. Các quy phạm pháp luật của ngành luật nhà nước đều không đủ 3 bộ phận cấu thành.
5. Những người là đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp” chỉ tham gia vào quan hệ pháp luật của ngành luật nhà nước.
6. Các văn bản chứa đựng quy phạm pháp luật của ngành luật nhà nước đều có thể trở thành nguồn của ngành luật nhà nước.
7. Các tác phẩm kinh điển, các bài viết , quan điểm của các nhà lãnh đạo Đảng và nhà nước là nguồn quan trọng của Luật nhà nước.
8. Khách thể của các quan hệ pháp luật Luật nhà nước là những khách thể quan trọng nhất.
9. Đối tượng điều chỉnh của ngành luật nhà nước là những quan hệ xã hội cơ bản và quan trọng nhất.
10. Các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật Luật nhà nước đều bình đẳng với nhau về quyền lợi và nghĩa vụ.
11. Các tổ chức xã hội được thành lập theo đúng những quy định của pháp luật đều là chủ thể của các quan hệ pháp luật ngành luật nhà nước
12. Vấn đề tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước chỉ được điều chỉnh bởi các quy phạm của ngành luật Nhà nước.
Phần 3. Câu hỏi thuyết trình nhóm.
Luật nhà nước một ngành luật cơ bản trong hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia.
Chương 2: HIẾN PHÁP
· Lịch sử lập hiến.
Phần 1. Câu hỏi nghiên cứu tự học
1. Các nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự ra đời của Hiến pháp
2. Phân loại Hiến pháp và các tiêu trí để phân loại Hiến pháp (cho ví dụ)
3. Hoàn cảnh ra đời các văn bản “tiền Hiến pháp” trên thế giới.
4. Hiến pháp một loại văn bản hạn chế quyền lực nhà nước.
5. Bàn về tinh thần luật pháp (De l’esprit des lois) của Montesquieu và cơ chế phân công, phân nhiệm trong tổ chức bộ máy nhà nước ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.[1]
6. Nội dung thuyết khế ước xã hội của Rousseau trong Bàn về khế ước xã hội (Du contrat social).[2]
7. Các giai đoạn phát triển của Hiến pháp trong xã hội tư sản
8. Các đặc trưng của Hiến pháp
9. Hiến pháp xã hội chủ nghĩa, sự ra đời và phát triển
10. Hiến pháp không thành văn và giá trị của nó trong lịch sử lập hiến thế giới.
11. Tổ chức nhà nước và vấn đề Hiến pháp
12. Những điểm khác biệt cơ bản giữa Hiến pháp xã hội chủ nghĩa và Hiến pháp tư sản.
13. Chế độ bảo hiến và các mô hình bảo hiến hiện nay trên thế giới.
14. Hiến pháp và sự ra đời của nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở khu vực Đông nam á.
15. Sự ảnh hưởng của các trào lưu dân chủ trên thế giới tới sự xuất hiện của các tư tưởng về lập hiến ở Việt Nam.
16. Nội dung quan điểm “ Ỷ Pháp cầu tiến bộ” của Phan Chu Trinh và tác động của nó đến việc hình thành các quan điểm về lập hiến của tầng lớp tiểu tư sản ở Việt Nam trước tháng 8/1945.
17. Nội dung cơ bản, hoàn cảnh ra đời của các bản Hiến pháp Việt Nam trong lịch sử.
18. Tư tưởng xuyên suốt trong lịch sử lập hiến Việt Nam.
Phần 2. Câu hỏi nhận định( các nhận định sau đúng hay sai? Tại sao?)
1. Nội dung ban đầu của giai cấp tư sản trong khẩu hiệu lập hiến là : Đánh đổ sự thống trị của giai cấp phong kiến, thành lập nhà nước cộng hòa tư sản.
2. Văn bản có tính “ hiến chương” đầu tiên trên thế giới là văn bản quy định về quyền và nghĩa vụ của các đơn vị hành chính ở Anh.
3. Tất cả các bản Hiến pháp cổ điển đều là Hiến pháp không thành văn.
4. Hiến pháp luôn được thông qua bởi Quốc hội lập hiến.
5. Theo học thuyết phân chia quyền lực của Montesquieu thì cành quyền lực hành pháp luôn là một cành quyền lực có “ thực quyền”.
6. Các bản hiến pháp trên thế giới luôn được coi là đạo luật cơ bản của nhà nước.
7. Việc giai cấp tư sản ban hành Hiến pháp sau khi đã giành được quyền lực chính trị đã bảo đảm được quyền lợi của giai cấp tư sản.
8. Việc trước cách mạng tháng 8/1945 ở Việt Nam chưa thể có Hiến pháp là do chúng ta chưa có độc lập tự do.
9. Hiến pháp 1946 là bản Hiến pháp xã hội chủ nghĩa đầu tiên ở khu vực Đông nam á.
10. Theo quy định của Hiến pháp 1946 thì Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có quyền miễn trừ tư pháp tuyệt đối.
11. Hiến pháp 1959 là bản hiến pháp có số lượng cương điều ít nhất trong các bản hiến pháp Việt Nam và Hiến pháp 1992 là bản hiến pháp có số lượng chương điều nhiều nhất.
12. Nhiệm kỳ của Nghị viện trong hiến pháp 1946 bằng với nhiệm kỳ của Chủ tịch nước.
Phần 3. Câu hỏi thuyết trình nhóm.
1. Học thuyết phân chia quyền lực và sự ảnh hưởng của chúng đến nội dung các Hiến pháp tư sản.
2. Chính thể Nhà nước trong hiến pháp 1946 sự sáng tạo tài tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
3. Hạn chế quyền lực nhà nước, lý do của sự ra đời Hiến pháp.
- Chế độ chính trị
Phần 1. Câu hỏi nghiên cứu tự học.
1. Chế độ chính trị theo quy định của Hiến pháp hiện hành
2. Đặc điểm của nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
3. Đặc điểm của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
4. Vai trò lãnh đạo của Đảng qua các bản Hiến pháp
5. Vị trí, vai trò của mặt trận tổ quốc trong hệ thống chính trị Việt Nam.
Phần 2. Câu hỏi nhận định (trả lời đúng sai và giải thích)
1. Chế độ chính trị dân chủ chỉ có ở các nhà nước xã hội chủ nghĩa.
2. Chế độ chính trị là một chế định pháp luật được đề ra để giải quyết vấn đề quyền lực nhà nước.
3. Chế độ chính trị có hai loại đó là: Chế độ chính trị dân chủ và chế độ chính trị phản dân chủ.
4. Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân là bản chất xuyên suốt của nhà nước Việt Nam qua các thời kỳ.
5. Quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân có nghĩa là tất cả quyền lực nhà nước đều tập trung và thống nhất vào nhân dân.
6. Đảng cộng sản Việt Nam là bộ phận lãnh đạo hệ thống chính trị Việt Nam.
7. Mặt trận tổ quốc Việt Nam có quyền quyết định về cơ cấu, số lượng đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp.
8. Mặt trận tổ quốc Việt Nam có quyền trình các kiến nghị về luật ra trước Quốc hội.
9. Các tổ chức thành viên của mặt trận đều có quyền tham gia vào hoạt động hình thành ra các cơ quan trong bộ máy nhà nước.
Phần 3. Câu hỏi thuyết trình nhóm.
1. Vai trò, vị trí của hệ thống chính trị Việt Nam qua các bản Hiến pháp. Những biện pháp chủ yếu để ncao vai trò của hệ thống trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
2. Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng trong hệ thống chính trị - một biện pháp quan trọng để tăng cường hiệu quả hoạt động của toàn hệ thống.
[1] Montesquieu - Bàn về tinh thần luật pháp (Bản dịch của Hoàng Thanh Đạm – NXB Tư pháp 2006)
[2] Russeau – Bàn về khế ước xã hội – NXB Thành phố Hồ Chí Minh 2001
CÂU HỎI TỰ HỌC MÔN LUẬT HIẾN PHÁP
1. Tại sao Khoa học Luật Hiến pháp là môn khoa học pháp lý chuyên ngành?
2. Phân tích đối tượng nghiên cứu của Khoa học luật hiến pháp.
3. Phân tích đối tượng điều chỉnh của Ngành luật hiến pháp.
4. Nguồn của ngành luật hiến pháp.
5. Phân tích các đặc điểm của quy phạm pháp luật hiến pháp.
6. Phân tích các đặc điểm của quan hệ pháp luật hiến pháp.
7. Phân tích các đặc điểm của Hiến pháp.
8. Tại sao Nhà nước chủ nô và phong kiến chưa có Hiến pháp?
9. Tại sao trước Cách mạng tháng 8 năm 1945 ở Việt Nam chưa có Hiến pháp?
10. Trình bày hoàn cảnh ra đời, tính chất, nhiệm vụ của Hiến pháp 1946.
11. Trình bày hoàn cảnh ra đời, tính chất, nhiệm vụ của Hiến pháp 1959.
12. Trình bày hoàn cảnh ra đời, tính chất, nhiệm vụ của Hiến pháp 1980.
13. Trình bày hoàn cảnh ra đời, tính chất, nhiệm vụ của Hiến pháp 1992.
14. Phân tích nội dung quyền dân tộc cơ bản trong Điều 1 Hiến pháp 1992.
15. Phân tích ý nghĩa của việc quy định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội trong Điều 4 Hiến pháp 1992.
16. Phân tích các hình thức thực hiện vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội.
17. Vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hệ thống chính trị theo quy định của Hiến pháp hiện hành năm 1992.
18. Vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong quá trình hình thành cơ quan đại diện (Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp).
19. Vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hoạt động lập pháp, lập quy.
20. Phân tích quy định: "Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa" (Điều 15 Hiến pháp 1992 (sửa đổi).
21. Phân tích nội dung của chế độ sở hữu toàn dân?
22. Phân tích nội dung của chế độ sở hữu tập thể?
23. Phân tích nội dung của chế độ sở hữu tư nhân?
24. Phân tích chính sách của Nhà nước đối với thành phần kinh tế Nhà nước theo Hiến pháp hiện hành năm 1992.
25. Phân tích chính sách của Nhà nước đối với thành phần kinh tế tập thể theo Hiến pháp hiện hành năm 1992?
26. Phân tích chính sách của Nhà nước đối với thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân theo Hiến pháp hiện hành năm 1992?
27. So sánh sở hữu toàn dân với sở hữu tập thể.
28. Phân tích nguyên tắc: Nhà nước thống nhất quản lý nền kinh tế quốc dân bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách. (Điều 26 Hiến pháp 1992)
29. Phân tích mục đích, chính sách phát triển nền giáo dục Việt Nam theo Hiến pháp hiện hành năm 1992.
30. Phân tích mục đích, chính sách phát triển khoa học, công nghệ theo Hiến pháp hiện hành năm 1992.
31. Khái niệm quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.
32. Phân tích nội dung, ý nghĩa của nguyên tắc tôn trọng quyền con người (Điều 50 Hiến pháp 1992).
33. Phân tích nội dung, ý nghĩa của nguyên tắc tính thống nhất giữa quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.
34. Phân tích nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật trong chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.
35. Phân tích nguyên tắc tính hiện thực trong chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.
36. Phân tích nguyên tắc tính nhân đạo xã hội chủ nghĩa trong chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.
37. Phân tích nội dung "Công dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan Nhà nước, biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân." (Điều 53 Hiến pháp 1992)
38. Phân tích Điều 57 Hiến pháp 1992 " Công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật."
39. Phân tích Điều 68 Hiến pháp 1992 "Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước theo quy định của pháp luật."
40. Phân tích quy định: "Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin…" (Điều 69 Hiến pháp 1992)
41. Phân tích quy định: "… Công dân có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật."(Điều 69 Hiến pháp 1992)
42. Phân tích nội dung quyền khiếu nại, tố cáo của công dân theo Hiến pháp 1992.
43. Phân tích nguyên tắc bầu cử phổ thông.
44. Phân tích nguyên tắc bầu cử trực tiếp.
45. Phân tích nguyên tắc bầu cử bình đẳng.
46. Phân tích nguyên tắc bỏ phiếu kín trong bầu cử.
47. Phân tích những điều kiện để thực hiện quyền bầu cử của công dân theo pháp luật hiện hành.
48. Phân tích những điều kiện để thực hiện quyền ứng cử của công dân theo pháp luật hiện hành.
49. Phân tích những điều kiện để một công dân trúng cử đại biểu Quốc hội theo pháp luật hiện hành.
50. Phân tích quy định về bãi nhiệm đại biểu theo pháp luật hiện hành.
51. Phân tích nguyên tắc: Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân trong tổ chức và hoạt động của Bộ máy nhà nước.
52. Phân tích nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội theo Hiến pháp hiện hành năm 1992.
53. Phân tích nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Chính phủ theo Hiến pháp hiện hành năm 1992.
54. Phân tích nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Toà án nhân dân theo Hiến pháp hiện hành năm 1992.
55. Phân tích nguyên tắc bình đẳng và đoàn kết dân tộc trong tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước theo Hiến pháp hiện hành năm 1992.
56. Phân tích quy định: "Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân" (Điều 83 Hiến pháp 1992).
57. Phân tích quy định: "Quốc hội là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam" (Điều 83 Hiến pháp 1992).
58. Phân tích chức năng lập hiến và lập pháp của Quốc hội theo pháp luật hiện hành.
59. Phân tích chức năng giám sát tối cao của Quốc hội theo pháp luật hiện hành.
60. Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước bằng những hình thức nào?
61. Phân tích hình thức hoạt động của Quốc hội thông qua kỳ họp của Quốc hội theo pháp luật hiện hành.
62. Phân tích hình thức hoạt động của Quốc hội thông qua Uỷ ban thường vụ Quốc hội theo pháp luật hiện hành.
63. Phân tích hình thức hoạt động của Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội theo pháp luật hiện hành.
64. Trình bày cơ cấu tổ chức của Quốc hội theo pháp luật hiện hành.
65. Phân tích hình thức hoạt động của Quốc hội thông qua hoạt động của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội theo pháp luật hiện hành.
66. Trình bày các quy định của Hiến pháp năm 1946 về Chủ tịch nước.
67. Trình bày các quy định của Hiến pháp năm 1959 về Chủ tịch nước.
68. Vị trí, vai trò và trật tự hình thành Chủ tịch nước theo Hiến pháp hiện hành năm 1992.
69. Phân tích mối quan hệ giữa Chủ tịch nước với Quốc hội theo pháp luật hiện hành.
70. Phân tích mối quan hệ giữa Chủ tịch nước với Chính phủ theo pháp luật hiện hành.
71. Phân tích mối quan hệ giữa Chủ tịch nước với Toà án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân theo pháp luật hiện hành.
72. Phân tích vị trí, tính chất, chức năng của Chính phủ theo pháp luật hiện hành.
73. Phân tích cơ cấu tổ chức và trật tự hình thành của Chính phủ theo pháp luật hiện hành.
74. Phân tích hình thức hoạt động của Chính phủ thông qua phiên họp Chính phủ theo pháp luật hiện hành.
75. Phân tích hình thức hoạt động của Chính phủ thông qua hoạt động của Thủ tướng theo pháp luật hiện hành.
76. Phân tích vị trí, tính chất, chức năng của Hội đồng nhân dân theo pháp luật hiện hành.
77. Hội đồng nhân dân có phải là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất ở địa phương không? Tại sao?
78. Các hình thức thực hiện quyền giám sát của Hội đồng nhân dân theo pháp luật hiện hành.
79. Trình bày cơ cấu tổ chức của Hội đồng nhân dân theo pháp luật hiện hành.
80. Phân tích hình thức hoạt động của Hội đồng nhân dân thông qua kỳ họp Hội đồng nhân dân.
81. Trình bày tổ chức và hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân theo pháp luật hiện hành.
82. Phân tích hoạt động của đại biểu Hội đồng nhân dân theo pháp luật hiện hành.
83. Trình bày tổ chức và hoạt động của các ban thuộc Hội đồng nhân dân theo pháp luật hiện hành.
84. Phân tích vị trí, tính chất, chức năng của Uỷ ban nhân dân theo pháp luật hiện hành.
85. Trình bày cơ cấu tổ chức và trật tự hình thành Uỷ ban nhân dân theo pháp luật hiện hành.
86. Phân tích hình thức hoạt động của Uỷ ban nhân dân thông qua phiên họp Uỷ ban nhân dân.
87. Phân tích hình thức hoạt động của Uỷ ban nhân dân thông qua hoạt động của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân.
88. Phân tích các mối quan hệ giữa Hội đồng nhân dân với Uỷ ban nhân dân cùng cấp theo pháp luật hiện hành.
89. Phân tích các mối quan hệ giữa Hội đồng nhân dân với các cơ quan nhà nước cùng cấp ở địa phương theo pháp luật hiện hành.
90. Phân tích nguyên tắc bổ nhiệm thẩm phán theo quy định pháp luật hiện hành.
91. Phân tích chức năng xét xử của Toà án.
92. Phân tích nguyên tắc: "Khi xét xử, Thẩm phán và hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật" (Điều 130 Hiến pháp 1992)
93. Phân tích nguyên tắc: "Toà án xét xử công khai, trừ trường hợp do luật định..." (Điều 131 Hiến pháp 1992).
94. Phân tích nguyên tắc: "Toà án nhân dân xét xử tập thể và quyết định theo đa số" (Điều 131 Hiến pháp 1992).
95. Phân tích nguyên tắc: Công dân có quyền dùng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình trước Toà án.
96. Phân tích chức năng của Viện kiểm sát nhân dân theo pháp luật hiện hành.
97. Trình bày tiêu chuẩn của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao theo pháp luật hiện hành.
98. Trình bày tiêu chuẩn của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân địa phương theo pháp luật hiện hành.
99. Trình bày tiêu chuẩn của Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao theo pháp luật hiện hành.
100. Trình bày tiêu chuẩn của Thẩm phán Toà án nhân dân địa phương theo pháp luật hiện hành.
2. Phân tích đối tượng nghiên cứu của Khoa học luật hiến pháp.
3. Phân tích đối tượng điều chỉnh của Ngành luật hiến pháp.
4. Nguồn của ngành luật hiến pháp.
5. Phân tích các đặc điểm của quy phạm pháp luật hiến pháp.
6. Phân tích các đặc điểm của quan hệ pháp luật hiến pháp.
7. Phân tích các đặc điểm của Hiến pháp.
8. Tại sao Nhà nước chủ nô và phong kiến chưa có Hiến pháp?
9. Tại sao trước Cách mạng tháng 8 năm 1945 ở Việt Nam chưa có Hiến pháp?
10. Trình bày hoàn cảnh ra đời, tính chất, nhiệm vụ của Hiến pháp 1946.
11. Trình bày hoàn cảnh ra đời, tính chất, nhiệm vụ của Hiến pháp 1959.
12. Trình bày hoàn cảnh ra đời, tính chất, nhiệm vụ của Hiến pháp 1980.
13. Trình bày hoàn cảnh ra đời, tính chất, nhiệm vụ của Hiến pháp 1992.
14. Phân tích nội dung quyền dân tộc cơ bản trong Điều 1 Hiến pháp 1992.
15. Phân tích ý nghĩa của việc quy định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội trong Điều 4 Hiến pháp 1992.
16. Phân tích các hình thức thực hiện vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội.
17. Vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hệ thống chính trị theo quy định của Hiến pháp hiện hành năm 1992.
18. Vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong quá trình hình thành cơ quan đại diện (Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp).
19. Vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hoạt động lập pháp, lập quy.
20. Phân tích quy định: "Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa" (Điều 15 Hiến pháp 1992 (sửa đổi).
21. Phân tích nội dung của chế độ sở hữu toàn dân?
22. Phân tích nội dung của chế độ sở hữu tập thể?
23. Phân tích nội dung của chế độ sở hữu tư nhân?
24. Phân tích chính sách của Nhà nước đối với thành phần kinh tế Nhà nước theo Hiến pháp hiện hành năm 1992.
25. Phân tích chính sách của Nhà nước đối với thành phần kinh tế tập thể theo Hiến pháp hiện hành năm 1992?
26. Phân tích chính sách của Nhà nước đối với thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân theo Hiến pháp hiện hành năm 1992?
27. So sánh sở hữu toàn dân với sở hữu tập thể.
28. Phân tích nguyên tắc: Nhà nước thống nhất quản lý nền kinh tế quốc dân bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách. (Điều 26 Hiến pháp 1992)
29. Phân tích mục đích, chính sách phát triển nền giáo dục Việt Nam theo Hiến pháp hiện hành năm 1992.
30. Phân tích mục đích, chính sách phát triển khoa học, công nghệ theo Hiến pháp hiện hành năm 1992.
31. Khái niệm quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.
32. Phân tích nội dung, ý nghĩa của nguyên tắc tôn trọng quyền con người (Điều 50 Hiến pháp 1992).
33. Phân tích nội dung, ý nghĩa của nguyên tắc tính thống nhất giữa quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.
34. Phân tích nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật trong chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.
35. Phân tích nguyên tắc tính hiện thực trong chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.
36. Phân tích nguyên tắc tính nhân đạo xã hội chủ nghĩa trong chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.
37. Phân tích nội dung "Công dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan Nhà nước, biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân." (Điều 53 Hiến pháp 1992)
38. Phân tích Điều 57 Hiến pháp 1992 " Công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật."
39. Phân tích Điều 68 Hiến pháp 1992 "Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước theo quy định của pháp luật."
40. Phân tích quy định: "Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin…" (Điều 69 Hiến pháp 1992)
41. Phân tích quy định: "… Công dân có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật."(Điều 69 Hiến pháp 1992)
42. Phân tích nội dung quyền khiếu nại, tố cáo của công dân theo Hiến pháp 1992.
43. Phân tích nguyên tắc bầu cử phổ thông.
44. Phân tích nguyên tắc bầu cử trực tiếp.
45. Phân tích nguyên tắc bầu cử bình đẳng.
46. Phân tích nguyên tắc bỏ phiếu kín trong bầu cử.
47. Phân tích những điều kiện để thực hiện quyền bầu cử của công dân theo pháp luật hiện hành.
48. Phân tích những điều kiện để thực hiện quyền ứng cử của công dân theo pháp luật hiện hành.
49. Phân tích những điều kiện để một công dân trúng cử đại biểu Quốc hội theo pháp luật hiện hành.
50. Phân tích quy định về bãi nhiệm đại biểu theo pháp luật hiện hành.
51. Phân tích nguyên tắc: Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân trong tổ chức và hoạt động của Bộ máy nhà nước.
52. Phân tích nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội theo Hiến pháp hiện hành năm 1992.
53. Phân tích nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Chính phủ theo Hiến pháp hiện hành năm 1992.
54. Phân tích nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Toà án nhân dân theo Hiến pháp hiện hành năm 1992.
55. Phân tích nguyên tắc bình đẳng và đoàn kết dân tộc trong tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước theo Hiến pháp hiện hành năm 1992.
56. Phân tích quy định: "Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân" (Điều 83 Hiến pháp 1992).
57. Phân tích quy định: "Quốc hội là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam" (Điều 83 Hiến pháp 1992).
58. Phân tích chức năng lập hiến và lập pháp của Quốc hội theo pháp luật hiện hành.
59. Phân tích chức năng giám sát tối cao của Quốc hội theo pháp luật hiện hành.
60. Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước bằng những hình thức nào?
61. Phân tích hình thức hoạt động của Quốc hội thông qua kỳ họp của Quốc hội theo pháp luật hiện hành.
62. Phân tích hình thức hoạt động của Quốc hội thông qua Uỷ ban thường vụ Quốc hội theo pháp luật hiện hành.
63. Phân tích hình thức hoạt động của Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội theo pháp luật hiện hành.
64. Trình bày cơ cấu tổ chức của Quốc hội theo pháp luật hiện hành.
65. Phân tích hình thức hoạt động của Quốc hội thông qua hoạt động của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội theo pháp luật hiện hành.
66. Trình bày các quy định của Hiến pháp năm 1946 về Chủ tịch nước.
67. Trình bày các quy định của Hiến pháp năm 1959 về Chủ tịch nước.
68. Vị trí, vai trò và trật tự hình thành Chủ tịch nước theo Hiến pháp hiện hành năm 1992.
69. Phân tích mối quan hệ giữa Chủ tịch nước với Quốc hội theo pháp luật hiện hành.
70. Phân tích mối quan hệ giữa Chủ tịch nước với Chính phủ theo pháp luật hiện hành.
71. Phân tích mối quan hệ giữa Chủ tịch nước với Toà án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân theo pháp luật hiện hành.
72. Phân tích vị trí, tính chất, chức năng của Chính phủ theo pháp luật hiện hành.
73. Phân tích cơ cấu tổ chức và trật tự hình thành của Chính phủ theo pháp luật hiện hành.
74. Phân tích hình thức hoạt động của Chính phủ thông qua phiên họp Chính phủ theo pháp luật hiện hành.
75. Phân tích hình thức hoạt động của Chính phủ thông qua hoạt động của Thủ tướng theo pháp luật hiện hành.
76. Phân tích vị trí, tính chất, chức năng của Hội đồng nhân dân theo pháp luật hiện hành.
77. Hội đồng nhân dân có phải là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất ở địa phương không? Tại sao?
78. Các hình thức thực hiện quyền giám sát của Hội đồng nhân dân theo pháp luật hiện hành.
79. Trình bày cơ cấu tổ chức của Hội đồng nhân dân theo pháp luật hiện hành.
80. Phân tích hình thức hoạt động của Hội đồng nhân dân thông qua kỳ họp Hội đồng nhân dân.
81. Trình bày tổ chức và hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân theo pháp luật hiện hành.
82. Phân tích hoạt động của đại biểu Hội đồng nhân dân theo pháp luật hiện hành.
83. Trình bày tổ chức và hoạt động của các ban thuộc Hội đồng nhân dân theo pháp luật hiện hành.
84. Phân tích vị trí, tính chất, chức năng của Uỷ ban nhân dân theo pháp luật hiện hành.
85. Trình bày cơ cấu tổ chức và trật tự hình thành Uỷ ban nhân dân theo pháp luật hiện hành.
86. Phân tích hình thức hoạt động của Uỷ ban nhân dân thông qua phiên họp Uỷ ban nhân dân.
87. Phân tích hình thức hoạt động của Uỷ ban nhân dân thông qua hoạt động của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân.
88. Phân tích các mối quan hệ giữa Hội đồng nhân dân với Uỷ ban nhân dân cùng cấp theo pháp luật hiện hành.
89. Phân tích các mối quan hệ giữa Hội đồng nhân dân với các cơ quan nhà nước cùng cấp ở địa phương theo pháp luật hiện hành.
90. Phân tích nguyên tắc bổ nhiệm thẩm phán theo quy định pháp luật hiện hành.
91. Phân tích chức năng xét xử của Toà án.
92. Phân tích nguyên tắc: "Khi xét xử, Thẩm phán và hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật" (Điều 130 Hiến pháp 1992)
93. Phân tích nguyên tắc: "Toà án xét xử công khai, trừ trường hợp do luật định..." (Điều 131 Hiến pháp 1992).
94. Phân tích nguyên tắc: "Toà án nhân dân xét xử tập thể và quyết định theo đa số" (Điều 131 Hiến pháp 1992).
95. Phân tích nguyên tắc: Công dân có quyền dùng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình trước Toà án.
96. Phân tích chức năng của Viện kiểm sát nhân dân theo pháp luật hiện hành.
97. Trình bày tiêu chuẩn của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao theo pháp luật hiện hành.
98. Trình bày tiêu chuẩn của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân địa phương theo pháp luật hiện hành.
99. Trình bày tiêu chuẩn của Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao theo pháp luật hiện hành.
100. Trình bày tiêu chuẩn của Thẩm phán Toà án nhân dân địa phương theo pháp luật hiện hành.
Thứ Tư, 16 tháng 7, 2008
CÂU HỎI TỰ HỌC MÔN LÝ LUẬN D17
BỘ MÔN PHÁP LUẬT
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU TỰ HỌC
MÔN: LÝ LUẬN NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
(Dùng cho Khoá D17S - Đại học CSND)
1. Đối tượng nghiên cứu của Lý luận nhà nước và pháp luật.
2. Phương pháp nghiên cứu Lý luận nhà nước và pháp luật.
3. Vấn đề nguồn gốc nhà nước và nguồn gốc pháp luật.
4. Vấn đề bản chất nhà nước, bản chất pháp luật.
5. Đặc trưng cơ bản của nhà nước, pháp luật.
6. Chức năng của nhà nước.
7. Các kiểu nhà nước trong lịch sử xã hội loài người.
8. Vấn đề hình thức nhà nước.
9. Sơ lược về đặc điểm của các hình thức chính thể nhà nước và các biến thể của nó đã, đang tồn tại trong lịch sử xã hội loài người.
10. Bộ máy nhà nước.
11.Vai trò của pháp luật và các mối quan hệ của pháp luật.
12. Các kiểu pháp luật đã tồn tại trong lịch sử xã hội loài người.
13. Hình thức pháp luật.
14. Sơ lược về các kiểu nhà nước và pháp luật Chiếm hữu nô lệ, Phong kiến và Tư sản.
15. Sự ra đời của nhà nước xã hội chủ nghĩa, bản chất, chức năng và hình thức nhà nước xã hội chủ nghĩa.
16. Bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa.
17. Bản chất và những đặc trưng cơ bản của nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
18. Các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của nhà nước xã hội chủ nghĩa.
19. Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa. Đổi mới hệ thống chính trị Việt Nam và vấn đề xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
20. Nhận định về những thuận lợi, khó khăn trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa giai đoạn hiện nay.
21. Bản chất pháp luật xã hội chủ nghĩa.
22. Vai trò pháp luật xã hội chủ nghĩa.
23. Hệ nguyên tắc cơ bản pháp luật xã hội chủ nghĩa.
24. Hình thức pháp luật xã hội chủ nghĩa.
25. Các loại văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam.
26. Vấn đề hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật.
27. Khái niệm, đặc điểm và cấu trúc của quy phạm pháp luật XHCN.
28. Hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa.
29. Các tiêu chuẩn cơ bản để xác định mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật.
30. Vấn đề ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa. Vai trò của lực lượng CAND trong việc góp phần nâng cao ý thức pháp luật XHCN.
31. Khái niệm, đặc điểm quan hệ pháp luật XHCN. Vấn đề năng lực của chủ thể quan hệ pháp luật XHCN.
32. Khái niệm, phân loại sự kiện pháp lý.
33. Khái niệm, các hình thức thực hiện pháp luật.
34. Các giai đoạn của quá trình áp dụng pháp luật.
35. Hành vi pháp luật.
36. Dấu hiệu vi phạm pháp luật , các yếu tố cấu thành vi phạm pháp luật và vấn đề trách nhiệm pháp lý.
37. Điều chỉnh pháp luật, cơ chế điều chỉnh pháp luật và hiệu quả của pháp luật.
38. Pháp chế và vấn đề pháp chế và tăng cường xã hội chủ nghĩa.
39. Vai trò của lực lượng CAND trong việc bảo đảm nền pháp chế XHCN trong giai đoạn hiện nay.
40. Vai trò của môn học Lý luận nhà nước và pháp luật đối với lực lượng Công an nhân dân.
41. Vai trò của lực lượng Công an nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân?
42. Vai trò của Pháp luật trong công tác đấu tranh phòng chống vi phạm pháp luật ở nước ta hiện nay?
43. Trình bày các nhóm đối tượng nghiên cứu cơ bản của hệ thống khoa học pháp lý Việt Nam. Xác định vai trò, vị trí của Lý luận nhà nước và pháp luật trong hệ thống đó?
Chú ý :
- Sinh viên bắt buộc phải chuẩn bị 04 câu ( Từ câu 40 đến câu 43)
- Lựa chọn 16 câu trong 39 câu còn lại
P. TRƯỞNG BỘ MÔN
(Đã ký)
Trung tá NGUYỄN GIANG NAM
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU TỰ HỌC
MÔN: LÝ LUẬN NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
(Dùng cho Khoá D17S - Đại học CSND)
1. Đối tượng nghiên cứu của Lý luận nhà nước và pháp luật.
2. Phương pháp nghiên cứu Lý luận nhà nước và pháp luật.
3. Vấn đề nguồn gốc nhà nước và nguồn gốc pháp luật.
4. Vấn đề bản chất nhà nước, bản chất pháp luật.
5. Đặc trưng cơ bản của nhà nước, pháp luật.
6. Chức năng của nhà nước.
7. Các kiểu nhà nước trong lịch sử xã hội loài người.
8. Vấn đề hình thức nhà nước.
9. Sơ lược về đặc điểm của các hình thức chính thể nhà nước và các biến thể của nó đã, đang tồn tại trong lịch sử xã hội loài người.
10. Bộ máy nhà nước.
11.Vai trò của pháp luật và các mối quan hệ của pháp luật.
12. Các kiểu pháp luật đã tồn tại trong lịch sử xã hội loài người.
13. Hình thức pháp luật.
14. Sơ lược về các kiểu nhà nước và pháp luật Chiếm hữu nô lệ, Phong kiến và Tư sản.
15. Sự ra đời của nhà nước xã hội chủ nghĩa, bản chất, chức năng và hình thức nhà nước xã hội chủ nghĩa.
16. Bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa.
17. Bản chất và những đặc trưng cơ bản của nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
18. Các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của nhà nước xã hội chủ nghĩa.
19. Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa. Đổi mới hệ thống chính trị Việt Nam và vấn đề xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
20. Nhận định về những thuận lợi, khó khăn trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa giai đoạn hiện nay.
21. Bản chất pháp luật xã hội chủ nghĩa.
22. Vai trò pháp luật xã hội chủ nghĩa.
23. Hệ nguyên tắc cơ bản pháp luật xã hội chủ nghĩa.
24. Hình thức pháp luật xã hội chủ nghĩa.
25. Các loại văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam.
26. Vấn đề hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật.
27. Khái niệm, đặc điểm và cấu trúc của quy phạm pháp luật XHCN.
28. Hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa.
29. Các tiêu chuẩn cơ bản để xác định mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật.
30. Vấn đề ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa. Vai trò của lực lượng CAND trong việc góp phần nâng cao ý thức pháp luật XHCN.
31. Khái niệm, đặc điểm quan hệ pháp luật XHCN. Vấn đề năng lực của chủ thể quan hệ pháp luật XHCN.
32. Khái niệm, phân loại sự kiện pháp lý.
33. Khái niệm, các hình thức thực hiện pháp luật.
34. Các giai đoạn của quá trình áp dụng pháp luật.
35. Hành vi pháp luật.
36. Dấu hiệu vi phạm pháp luật , các yếu tố cấu thành vi phạm pháp luật và vấn đề trách nhiệm pháp lý.
37. Điều chỉnh pháp luật, cơ chế điều chỉnh pháp luật và hiệu quả của pháp luật.
38. Pháp chế và vấn đề pháp chế và tăng cường xã hội chủ nghĩa.
39. Vai trò của lực lượng CAND trong việc bảo đảm nền pháp chế XHCN trong giai đoạn hiện nay.
40. Vai trò của môn học Lý luận nhà nước và pháp luật đối với lực lượng Công an nhân dân.
41. Vai trò của lực lượng Công an nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân?
42. Vai trò của Pháp luật trong công tác đấu tranh phòng chống vi phạm pháp luật ở nước ta hiện nay?
43. Trình bày các nhóm đối tượng nghiên cứu cơ bản của hệ thống khoa học pháp lý Việt Nam. Xác định vai trò, vị trí của Lý luận nhà nước và pháp luật trong hệ thống đó?
Chú ý :
- Sinh viên bắt buộc phải chuẩn bị 04 câu ( Từ câu 40 đến câu 43)
- Lựa chọn 16 câu trong 39 câu còn lại
P. TRƯỞNG BỘ MÔN
(Đã ký)
Trung tá NGUYỄN GIANG NAM
Thứ Hai, 14 tháng 7, 2008
Xung đột pháp luật

XUNG ĐỘT TRÊN HAI QUẦN ĐẢO HOÀNG SA – TRƯỜNG SA
VÀ NHỮNG CÁCH THỨC QUẢN LÝ XUNG ĐỘT
Th.s LÊ QUANG THÀNH
Ngày nay, mối quan tâm lớn nhất của các quốc gia trong khu vực Châu Á –Thái Bình Dương là vấn đề kinh tế chứ không phải là an ninh. Những nhân tố có khả năng ảnh hưởng trực tiếp đến hoà bình, an ninh khu vực như: Chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc, chiến tranh lạnh, ý thức hệ..v..v… hiện nay đã dịu bớt.
Những vấn đề về an ninh bức xúc nhất mà khu vực đang phải đương đầu đó là những vấn đề liên quan đến chủ quyền và lãnh thổ, đặc biệt là khu vực ven bờ biển Đông. Hầu hết các quốc gia ven bờ biển Đông đều có liên quan và hiện nay, những mâu thuẫn, tranh chấp, xung đột… giữa các quốc gia trong khu vực này đang cản trở quá trình hội nhập, phát triển của cả khu vực.
Hầu hết các vùng biển trong khu vực Biển Đông đều là đối tượng xung đột, tranh chấp, trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ đề cập tới “tranh chấp chủ quyền lãnh thổ trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa” nơi được coi là nóng nhất và nhạy cảm nhất.
Nằm trong vùng Biển Đông, với vị trí địa hình vô cùng chiến lược, cộng với khả năng cung cấp nguồn tài nguyên rất lớn khiến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là “miếng bánh thơm” mà không một quốc gia liên quan nào muốn từ bỏ, mặc dù đó đích thực là lãnh thổ thiêng liêng bất khả xâm phạm của Việt Nam.
I. YÊU SÁCH CỦA CÁC BÊN VÀ KHẢ NĂNG GÂY XUNG ĐỘT
Có thể tóm tắt lợi ích của các bên đòi chủ quyền đối với hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa như sau:
- Yêu sách của Trung Quốc và Đài Loan
Trung Quốc và Đài Loan đòi chủ quyền đối với 80% diện tích Biển Đông trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa theo đường hình chữ U (đường lưỡi bò) mà Trung Quốc đơn phương tưyên bố vào năm 1947. Không có một chứng cứ pháp lý nào đủ sức thưyết phục để chứng minh chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo này song cho đến thời điểm hiện nay, bằng biện pháp dùng vũ lực (một phương pháp chiếm hữu lãnh thổ trái pháp luật quốc tế) Trung Quốc đã chiếm đóng toàn bộ quần đảo Hoàng Sa và chiếm đóng trên 09 đảo và thực thể thuộc quần đảo Trường Sa. Đây là một hành vi trái với pháp luật và thực tiễn quốc tế, xâm phạm trắng trợn chủ quyền lãnh thổ quốc gia của Việt Nam.
- Quan điểm, lập trường pháp lý của Việt Nam.
Trước tiên cần phải khẳng định hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa đã từ lâu là một phần không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam. Ít nhất là từ thế kỷ 17, đã có đầy đủ các các căn cứ lịch sử và chứng cứ pháp lý để khẳng định và chứng minh chủ quyền không thẻ tranh cãi của Việt Nam đối với hai quần đảo này.
Việt Nam luôn có thiện chí giải quyết tranh chấp bằng thương lượng, hoà bình tuân thủ luật pháp quốc tế và trong thực tiễn xác lập chủ quyền cũng như quản lý, sử dụng lãnh thổ của mình Việt Nam luôn tôn trọng chủ quyền, lợi ích các quốc gia hữu quan trong khu vực bằng nhiều động thái tích cực.
- Yêu sách của một số quốc gia khác
Philippin đòi chủ quyền đối với tất cả các thực thể chìm và nổi trong khu vực biển mà họ gọi là Kalayan (vùng đất tự do). Malaysia đòi chủ quyền đối với 7 thực thể. Brunei đòi chủ quyền đối với vùng đặc quyền kinh tế rộng 200 hải lý bao gồm cả một số thực thể mà Malaysia đang tuyên bố là của họ.
Bên cạnh các quốc gia nói trên có liên quan trực tiếp đến tranh chấp chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trưòng Sa, cũng có một số quốc gia trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương như Nhật Bản và Hoa Kỳ quan tâm đến vấn đề xung đột chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Tất nhiên đó không phải là việc ngẫu nhiên. Điều đó, theo chúng tôi xuất phát từ những lý do sau:
1. Lợi ích về uy tín quốc gia và sự thống nhất lãnh thổ.
Vì lợi ích mà các quốc gia hướng tới là uy tín của và danh dự của quốc gia cho nên theo tiêu chí đó, kích thước của các thực thể tranh chấp, lợi ích kinh tế hay vị trí chiến lược của các thực thể không hoàn toàn là mục đích cuối cùng của các quốc gia hướng tới mà quan trọng hơn nữa đó là danh dự và uy tín của quốc gia.
2. Giá trị chiến lược của hai quần đảo.
Mặc dù những tuyến đường biển chính lưu thông, chuyên trở 25% lượng hàng hoá trên thế giới nằm khá xa quần đảo Trường Sa song nếu kiểm soát được Trường Sa sẽ cho phép bao quát được toàn bộ các tuyến đường hằng hải đó, trong điều kiện bình thường, những tuyến đường đó không bị đe doạ bởi tất cả các nước đều hướng tới mục tiêu chung là phát triển kinh tế, duy trì sự lưu thông của tuyến đường hằng hải đó. Tuy nhiên, khi quan hệ giữa các bên trở nên căng thẳng, thì việc kiểm soát được các tuyến đường hàng hải này là hết sức quan trọng.
3. Lợi ích kinh tế.
Khu vực biển xung quanh hai quần đảo được xem là một trong những nơi có khả năng trữ lưọng dầu mỏ, khí lớn nhất trong vùng Biển Đông, các quốc gia đều không muốn từ bỏ một lượng cung cấp năng lượng khổng lồ như vậy, nhất là trong điều kiện hiện nay, khi nguồn tài nguyên trên đất liền đang ngày càng cạn kiệt. Không chỉ có Trung Quốc, Việt Nam…mà Hoa Kỳ, Nga, Úc và Nhật Bản cũng hết sức quan tâm đến tình hình tranh chấp trong khu vực. Bởi các quốc gia này đã coi khu vực này là điểm đến trong tương lai để mở rộng phạm vi ảnh hưởng cũng như hạn chế sự ảnh hưởng đang ngày càng lớn của Trung Quốc.
Rõ ràng là khả năng xung đột là không thể loại trừ. Các tranh chấp trong vùng Biển Đông đang có xu hướng xấu dần đi và khả năng dùng vũ lực để giải quyết vấn đề rất dễ xay ra nếu các bên không giải quýet một cách khéo léo, triệt để. Va chạm quân sự, dùng vũ lực để chiếm đóng các thực thể đang tranh chấp như cách mà Trung Quốc đã thực hiện vào các năm 1974 và 1988 không có gì đảm bảo là sẽ không lặp lại. Thực tế cho thấy tất cả các quốc gia có liên quan đều có lực lượng đồn trú trên các đảo, thực thể (trừ Brunei). Thậm chí, Trung Quốc, Philippin và Malaysia, đã tăng cường lực lượng đồn trú trên các đảo (trừ Brunei) thậm chí Trung Quốc, Philippin và Malaysia đã tăng cường khả năng của các lực lưọng quân đội nhằm mục đích thực hiện các đòi hỏi của mình đối với các thực thể cả nổi cả chìm. Những hành động như: bắt giữ dân chài trái phép, lắp đặt dàn khoan dầu (vụ dàn khoan KATAN 03 của Trung Quốc), dùng tàu hải quân để biểu dương lực lượng..v..v..đã xảy ra nhiều lần và thường xuyên ở trong và khu vực lân cận quần đảo Trường Sa.
Như vậy, một số khả năng chủ yếu có thể gây ra xung đột trên vùng Biển Đông nói chung và khu vực hai quần đảo như sau:
Thứ nhất: Khi Trung Quốc đã phát triển đủ mạnh về tiềm lực quân sự đủ sức đánh bật mọi lực lượng của mọi quốc gia có liên quan khỏi khu vực tranh chấp chủ quyền và sự can thiệp của các quốc gia từ bên ngoài sẽ không xảy ra hoặc sẽ bị vô hiệu hoá.
Thứ hai: Khi quan hệ giữa các quốc gia tranh chấp trở lên căng thẳng và thái độ của họ rất hiếu chiến.
Thứ ba: Khi một bên bị khiêu khích cực độ, ví dụ khi một bên nào đó tiến hành xây dựng một công trình, thiết bị trên vùng biển, lãnh thổ thuộc chủ quyền của một quốc gia khác nhưng không được đồng ý hoặc đã bị phản đối nhưng vẫn phớt lờ như không hề biết và vẫn tiến hành các hoặt động xâm phạm chủ quyền một cách trắng trợn.
II. NHỮNG YẾU TỐ VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP NGĂN CHẶN XUNG ĐỘT
Nguy cơ có thể dẫn đến xung đột không thể xem thưòng và yêu cầu cấp bách đặt ra là cần phải có một cơ chế thích hợp và các phưong thức thực sự hữu hiệu để hạn chế khả năng xảy ra xung đột và quản lý xung đột.
Theo đánh giá của nhiều chuyên gia thì hiện nay những yếu tố sau đây có tác dụng ngăn cản nguy cơ dùng vũ lực để giải quyết xung đột.
1. Về cơ bản, quan hệ giữa các bên đòi chủ quyền là tương đối tốt Trên thực tế, hầu hết các quốc gia trong khu vực đều cam kết giải quyết tranh chấp bằng phương pháp thương lượng hoà bình. Tất cả các bên đòi chủ quyền đều mong muốn có một môi trường thực sự hoà bình, ổn định để theo đuổi mục tiêu phát triển đất nước.
2. Giá trị kinh tế trong vùng tranh chấp cho đến nay là không lớn. Chưa tìm thấy mỏ dầu nào thực sự đủ lớn che mắt các quốc gia có liên quan để họ bất chấp tất cả, sẵn sàng dùng vũ lực để chiếm đóng.
3. Nhiều tiến trình và cơ chế thúc đẩy quá trình đàm phán ngoại giao giữa các quốc gia đã được đặt ra. Vấn đề ngăn chặn, hạn chế nguy cơ xung đột đang được thực hiện và phát triển lên một tầm cao mới.
4. Tất cả các bên đòi chủ quyền ngày càng phụ thuộc lẫn nhau trong vấn đề phát triển mạng lưới thương mại, tăng cường thị trường và giao lưu kinh tế. Các quốc gia hữu quan ngày càng phải đối mặt với sự lên án của cộng đồng quốc tế nếu họ sử xự không khéo léo và lệnh cấm vận của Hội đồng bảo an Liên Hợp Quốc luôn treo lơ lửng trên đầu các quốc gia.
Sau khi xem xét và đặt hai yếu tố là: 1) Nguy cơ gây ra xung đột và 2) Các yếu tố ngăn chặn, hạn chế xung đột chúng ta có thể nhận thấy rằng khẳ năng bùng nổ chiến tranh liên quan đến chủ quyền lãnh thổ trong vùng Biển Đông nói chung và trên hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa nói riêng là rất thấp trong tương lai gần. Khả năng ấy được dự đoán là cũng có giới hạn, kể cả trong trường hợp Trung Quốc phát triển lực lượng hải quân biển xanh đến một trình độ mà không một quốc gia nào trong khu vực có thể chống lại.
Các bên đòi hỏi chủ quyền đã thông qua được những cách thức hạn chế, ngăn ngừa và quản lý xung đột, mặc dù vẫn còn sự khác biệt, thậm chí là xung đột với nhau, song qua đó chúng ta nhận thấy một số điểm chung như sau:
Một là: Cơ chế giải quyết tranh chấp bằng phương pháp hoà bình, tăng cường đàm phán ngoại giao trên trường quốc tế. Cụ thể là những cuộc đàm phán song phương và đa phương đã và đang diễn ra giữa các nước ASEAN với Trung Quốc cùng với một số đối tác quan trọng khác như Mỹ, Nhật Bản…
Hai là: Các quốc gia chanh chấp, đòi chủ quyền đều hướng tới các biện pháp xây dựng lòng tin tưởng lẫn nhau về mục tiêu giải quyết chanh chấp và tạm gác vấn đề chủ quyền lãnh thổ qua một bên để đẩy mạnh quá trình phát triển kinh tế, hội nhập toàn cầu.
Ba là: Sự hiện diện trên các đảo, các thực thể đang xảy ra tranh chấp của lực lượng quân sự của các quốc gia hữu quan cũng mang một ý nghĩa chiến lược, một mặt củng cố tính cứng rắn, hợp pháp quan điểm, lập trường của họ, mặt khác mang tính răn đe đối với bất cứ bên nào có ý đồ sử dụng vũ lực để chiếm đóng.
Bốn là: Các cơ chế an ninh, phòng ngừa cũng được quan tâm thoả đáng.
Đã có hàng loạt các cơ chế an ninh, phòng ngừa quy định thái độ của các bên tranh chấp đối với vấn đề Hoàng Sa.Trong đó quan trọng nhất là những cơ chế do ASEAN( hiệp hội các nước Đông Nam Á) qui định bao gồm: Tuyên bố khu vực hoà bình, tự do trung lập, tuyên bố ASEAN và Bỉên Đông năm 1992: Bộ qui tắc ứng xử Biển Đông ( COD) và quy tắc ứng xử giữa Trung Quốc và Philippin năm 1995…
Năm là: Khả năng kiềm chế ngoại giao và chính trị giữa các quốc gia là tương đối tốt trong suốt thời gian có nguy cơ xảy ra xung đột vũ trang. Hiệu quả mà phương thức này mang lại còn hơn cả biện pháp răn đe quân sự. Việc thành lập một khối ASEAN thống nhất đã tạo được cơ chế đối trọng rất tốt với Trung Quốc trong quá trình tiến hành giải quyết tranh chấp
Sáu là: Vấn đề về cân bằng chiến lược cũng đã được tiến hành và quan tâm.
Hầu hết các quốc gia Đông Nam Á đều muốn có sự hiện diện của quân đội của Hoa Kỳ trên lãnh thổ của họ như: Singapo, Philippin, Thái lan, Indonesia…tuy nhiên trừ Singapo, không một quốc gia nào mong muốn Mỹ làm thay phần của họ hoặc can thiệp quá sâu vào công việc đòi chủ quyền lãnh thổ của họ. Bên cạnh đó, lợi ích của một số cường quốc khác như: Nhật Bản, Nga, Mỹ… trong khu vực Biển Đông cũng là một yếu tố khiến cho khu vực này có sự cân bằng về chiến lược.
III. MỘT SỐ KẾT LUẬN
Không phải ngẫu nhiên người ta coi thế kỷ 21 là thế kỷ của đại dương và của biển và xu thế tiến ra biển đang là xu thế chung của nhân loại trong thế kỷ này. Tuy vậy cũng chính từ đó mà nguy cơ xảy ra xung đột luôn tiềm ẩn và có thể bùng phát bất cứ lúc nào. Những thành tựu mà khu vực nói chung và Việt Nam đã đạt được trong thời gian qua nhằm kiềm chế, quản lý xung đột thực sự rất đáng ghi nhận và cần được củng cố, phát huy.
Tinh minh bạch và tuân thủ pháp luật quốc tế trong các hoạt động của các bên hữu quan về vấn đề chủ quyền lãnh thổ đối với quần đảo Trường Sa và vấn đề tranh chấp chủ quyền lãnh thổ trên quần đảo Hoàng Sa luôn là tiêu chí tối quan trọng, đặc biệt là đối với Trung Quốc.
Việt Nam khẳng định chủ quyền không thể chối cãi của mình đối với hai quần đảo Trương Sa và Hoàng Sa, luôn giữ vững lập trường, quan điểm của mình về hai quần đảo này trong tất cả các cuộc đàm phán song phương, đa phương trên trường quốc tế đó là: giải quyết tranh chấp bằng phương pháp hoà bình, theo qui định của pháp luật của quốc tế hiện tại. Không chỉ với chủ quyền mà đối với cả vấn đề tranh chấp, chồng lấn trên các vùng biển với một số quốc gia hữu quan khác.
Chúng tôi hy vọng rằng với một số ý kiến nêu trong bài viết này, sẽ góp phần củng cố thêm cơ sở pháp lý của Việt Nam khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Bên cạnh đó, phần nào sẽ giúp chúng ta có cái nhìn sâu hơn về những nguy cơ gây xung đột và khả năng kiềm chế xung đột trong khu vực Biển Đông, đặc biệt là tại khu vực hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Mặc dù xung đột ở biển Đông là có ít khả năng trở lên tiêu cực, xét cả khía cạnh huy động hoả lực và khả năng tiềm tàng song không vì thế mà các quốc gia ven bờ biển Đông không quan tâm đến vấn đề này. Xung đột kéo dài, mang tính chất phức tạp, với sự tham gia của nhiều quốc gia đã cản trở tiến trình hội nhập của mỗi quốc gia có liên quan và Việt Nam không nằm ngoài qui luật đó. Nhu cầu giải quyết tranh chấp trên Biển Đông và đưa ra các phương pháp, cách thức hạn chế, quản lý xung đột đó đã và đang là nhu cầu cấp thiết.
VÀ NHỮNG CÁCH THỨC QUẢN LÝ XUNG ĐỘT
Th.s LÊ QUANG THÀNH
Ngày nay, mối quan tâm lớn nhất của các quốc gia trong khu vực Châu Á –Thái Bình Dương là vấn đề kinh tế chứ không phải là an ninh. Những nhân tố có khả năng ảnh hưởng trực tiếp đến hoà bình, an ninh khu vực như: Chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc, chiến tranh lạnh, ý thức hệ..v..v… hiện nay đã dịu bớt.
Những vấn đề về an ninh bức xúc nhất mà khu vực đang phải đương đầu đó là những vấn đề liên quan đến chủ quyền và lãnh thổ, đặc biệt là khu vực ven bờ biển Đông. Hầu hết các quốc gia ven bờ biển Đông đều có liên quan và hiện nay, những mâu thuẫn, tranh chấp, xung đột… giữa các quốc gia trong khu vực này đang cản trở quá trình hội nhập, phát triển của cả khu vực.
Hầu hết các vùng biển trong khu vực Biển Đông đều là đối tượng xung đột, tranh chấp, trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ đề cập tới “tranh chấp chủ quyền lãnh thổ trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa” nơi được coi là nóng nhất và nhạy cảm nhất.
Nằm trong vùng Biển Đông, với vị trí địa hình vô cùng chiến lược, cộng với khả năng cung cấp nguồn tài nguyên rất lớn khiến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là “miếng bánh thơm” mà không một quốc gia liên quan nào muốn từ bỏ, mặc dù đó đích thực là lãnh thổ thiêng liêng bất khả xâm phạm của Việt Nam.
I. YÊU SÁCH CỦA CÁC BÊN VÀ KHẢ NĂNG GÂY XUNG ĐỘT
Có thể tóm tắt lợi ích của các bên đòi chủ quyền đối với hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa như sau:
- Yêu sách của Trung Quốc và Đài Loan
Trung Quốc và Đài Loan đòi chủ quyền đối với 80% diện tích Biển Đông trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa theo đường hình chữ U (đường lưỡi bò) mà Trung Quốc đơn phương tưyên bố vào năm 1947. Không có một chứng cứ pháp lý nào đủ sức thưyết phục để chứng minh chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo này song cho đến thời điểm hiện nay, bằng biện pháp dùng vũ lực (một phương pháp chiếm hữu lãnh thổ trái pháp luật quốc tế) Trung Quốc đã chiếm đóng toàn bộ quần đảo Hoàng Sa và chiếm đóng trên 09 đảo và thực thể thuộc quần đảo Trường Sa. Đây là một hành vi trái với pháp luật và thực tiễn quốc tế, xâm phạm trắng trợn chủ quyền lãnh thổ quốc gia của Việt Nam.
- Quan điểm, lập trường pháp lý của Việt Nam.
Trước tiên cần phải khẳng định hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa đã từ lâu là một phần không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam. Ít nhất là từ thế kỷ 17, đã có đầy đủ các các căn cứ lịch sử và chứng cứ pháp lý để khẳng định và chứng minh chủ quyền không thẻ tranh cãi của Việt Nam đối với hai quần đảo này.
Việt Nam luôn có thiện chí giải quyết tranh chấp bằng thương lượng, hoà bình tuân thủ luật pháp quốc tế và trong thực tiễn xác lập chủ quyền cũng như quản lý, sử dụng lãnh thổ của mình Việt Nam luôn tôn trọng chủ quyền, lợi ích các quốc gia hữu quan trong khu vực bằng nhiều động thái tích cực.
- Yêu sách của một số quốc gia khác
Philippin đòi chủ quyền đối với tất cả các thực thể chìm và nổi trong khu vực biển mà họ gọi là Kalayan (vùng đất tự do). Malaysia đòi chủ quyền đối với 7 thực thể. Brunei đòi chủ quyền đối với vùng đặc quyền kinh tế rộng 200 hải lý bao gồm cả một số thực thể mà Malaysia đang tuyên bố là của họ.
Bên cạnh các quốc gia nói trên có liên quan trực tiếp đến tranh chấp chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trưòng Sa, cũng có một số quốc gia trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương như Nhật Bản và Hoa Kỳ quan tâm đến vấn đề xung đột chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Tất nhiên đó không phải là việc ngẫu nhiên. Điều đó, theo chúng tôi xuất phát từ những lý do sau:
1. Lợi ích về uy tín quốc gia và sự thống nhất lãnh thổ.
Vì lợi ích mà các quốc gia hướng tới là uy tín của và danh dự của quốc gia cho nên theo tiêu chí đó, kích thước của các thực thể tranh chấp, lợi ích kinh tế hay vị trí chiến lược của các thực thể không hoàn toàn là mục đích cuối cùng của các quốc gia hướng tới mà quan trọng hơn nữa đó là danh dự và uy tín của quốc gia.
2. Giá trị chiến lược của hai quần đảo.
Mặc dù những tuyến đường biển chính lưu thông, chuyên trở 25% lượng hàng hoá trên thế giới nằm khá xa quần đảo Trường Sa song nếu kiểm soát được Trường Sa sẽ cho phép bao quát được toàn bộ các tuyến đường hằng hải đó, trong điều kiện bình thường, những tuyến đường đó không bị đe doạ bởi tất cả các nước đều hướng tới mục tiêu chung là phát triển kinh tế, duy trì sự lưu thông của tuyến đường hằng hải đó. Tuy nhiên, khi quan hệ giữa các bên trở nên căng thẳng, thì việc kiểm soát được các tuyến đường hàng hải này là hết sức quan trọng.
3. Lợi ích kinh tế.
Khu vực biển xung quanh hai quần đảo được xem là một trong những nơi có khả năng trữ lưọng dầu mỏ, khí lớn nhất trong vùng Biển Đông, các quốc gia đều không muốn từ bỏ một lượng cung cấp năng lượng khổng lồ như vậy, nhất là trong điều kiện hiện nay, khi nguồn tài nguyên trên đất liền đang ngày càng cạn kiệt. Không chỉ có Trung Quốc, Việt Nam…mà Hoa Kỳ, Nga, Úc và Nhật Bản cũng hết sức quan tâm đến tình hình tranh chấp trong khu vực. Bởi các quốc gia này đã coi khu vực này là điểm đến trong tương lai để mở rộng phạm vi ảnh hưởng cũng như hạn chế sự ảnh hưởng đang ngày càng lớn của Trung Quốc.
Rõ ràng là khả năng xung đột là không thể loại trừ. Các tranh chấp trong vùng Biển Đông đang có xu hướng xấu dần đi và khả năng dùng vũ lực để giải quyết vấn đề rất dễ xay ra nếu các bên không giải quýet một cách khéo léo, triệt để. Va chạm quân sự, dùng vũ lực để chiếm đóng các thực thể đang tranh chấp như cách mà Trung Quốc đã thực hiện vào các năm 1974 và 1988 không có gì đảm bảo là sẽ không lặp lại. Thực tế cho thấy tất cả các quốc gia có liên quan đều có lực lượng đồn trú trên các đảo, thực thể (trừ Brunei). Thậm chí, Trung Quốc, Philippin và Malaysia, đã tăng cường lực lượng đồn trú trên các đảo (trừ Brunei) thậm chí Trung Quốc, Philippin và Malaysia đã tăng cường khả năng của các lực lưọng quân đội nhằm mục đích thực hiện các đòi hỏi của mình đối với các thực thể cả nổi cả chìm. Những hành động như: bắt giữ dân chài trái phép, lắp đặt dàn khoan dầu (vụ dàn khoan KATAN 03 của Trung Quốc), dùng tàu hải quân để biểu dương lực lượng..v..v..đã xảy ra nhiều lần và thường xuyên ở trong và khu vực lân cận quần đảo Trường Sa.
Như vậy, một số khả năng chủ yếu có thể gây ra xung đột trên vùng Biển Đông nói chung và khu vực hai quần đảo như sau:
Thứ nhất: Khi Trung Quốc đã phát triển đủ mạnh về tiềm lực quân sự đủ sức đánh bật mọi lực lượng của mọi quốc gia có liên quan khỏi khu vực tranh chấp chủ quyền và sự can thiệp của các quốc gia từ bên ngoài sẽ không xảy ra hoặc sẽ bị vô hiệu hoá.
Thứ hai: Khi quan hệ giữa các quốc gia tranh chấp trở lên căng thẳng và thái độ của họ rất hiếu chiến.
Thứ ba: Khi một bên bị khiêu khích cực độ, ví dụ khi một bên nào đó tiến hành xây dựng một công trình, thiết bị trên vùng biển, lãnh thổ thuộc chủ quyền của một quốc gia khác nhưng không được đồng ý hoặc đã bị phản đối nhưng vẫn phớt lờ như không hề biết và vẫn tiến hành các hoặt động xâm phạm chủ quyền một cách trắng trợn.
II. NHỮNG YẾU TỐ VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP NGĂN CHẶN XUNG ĐỘT
Nguy cơ có thể dẫn đến xung đột không thể xem thưòng và yêu cầu cấp bách đặt ra là cần phải có một cơ chế thích hợp và các phưong thức thực sự hữu hiệu để hạn chế khả năng xảy ra xung đột và quản lý xung đột.
Theo đánh giá của nhiều chuyên gia thì hiện nay những yếu tố sau đây có tác dụng ngăn cản nguy cơ dùng vũ lực để giải quyết xung đột.
1. Về cơ bản, quan hệ giữa các bên đòi chủ quyền là tương đối tốt Trên thực tế, hầu hết các quốc gia trong khu vực đều cam kết giải quyết tranh chấp bằng phương pháp thương lượng hoà bình. Tất cả các bên đòi chủ quyền đều mong muốn có một môi trường thực sự hoà bình, ổn định để theo đuổi mục tiêu phát triển đất nước.
2. Giá trị kinh tế trong vùng tranh chấp cho đến nay là không lớn. Chưa tìm thấy mỏ dầu nào thực sự đủ lớn che mắt các quốc gia có liên quan để họ bất chấp tất cả, sẵn sàng dùng vũ lực để chiếm đóng.
3. Nhiều tiến trình và cơ chế thúc đẩy quá trình đàm phán ngoại giao giữa các quốc gia đã được đặt ra. Vấn đề ngăn chặn, hạn chế nguy cơ xung đột đang được thực hiện và phát triển lên một tầm cao mới.
4. Tất cả các bên đòi chủ quyền ngày càng phụ thuộc lẫn nhau trong vấn đề phát triển mạng lưới thương mại, tăng cường thị trường và giao lưu kinh tế. Các quốc gia hữu quan ngày càng phải đối mặt với sự lên án của cộng đồng quốc tế nếu họ sử xự không khéo léo và lệnh cấm vận của Hội đồng bảo an Liên Hợp Quốc luôn treo lơ lửng trên đầu các quốc gia.
Sau khi xem xét và đặt hai yếu tố là: 1) Nguy cơ gây ra xung đột và 2) Các yếu tố ngăn chặn, hạn chế xung đột chúng ta có thể nhận thấy rằng khẳ năng bùng nổ chiến tranh liên quan đến chủ quyền lãnh thổ trong vùng Biển Đông nói chung và trên hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa nói riêng là rất thấp trong tương lai gần. Khả năng ấy được dự đoán là cũng có giới hạn, kể cả trong trường hợp Trung Quốc phát triển lực lượng hải quân biển xanh đến một trình độ mà không một quốc gia nào trong khu vực có thể chống lại.
Các bên đòi hỏi chủ quyền đã thông qua được những cách thức hạn chế, ngăn ngừa và quản lý xung đột, mặc dù vẫn còn sự khác biệt, thậm chí là xung đột với nhau, song qua đó chúng ta nhận thấy một số điểm chung như sau:
Một là: Cơ chế giải quyết tranh chấp bằng phương pháp hoà bình, tăng cường đàm phán ngoại giao trên trường quốc tế. Cụ thể là những cuộc đàm phán song phương và đa phương đã và đang diễn ra giữa các nước ASEAN với Trung Quốc cùng với một số đối tác quan trọng khác như Mỹ, Nhật Bản…
Hai là: Các quốc gia chanh chấp, đòi chủ quyền đều hướng tới các biện pháp xây dựng lòng tin tưởng lẫn nhau về mục tiêu giải quyết chanh chấp và tạm gác vấn đề chủ quyền lãnh thổ qua một bên để đẩy mạnh quá trình phát triển kinh tế, hội nhập toàn cầu.
Ba là: Sự hiện diện trên các đảo, các thực thể đang xảy ra tranh chấp của lực lượng quân sự của các quốc gia hữu quan cũng mang một ý nghĩa chiến lược, một mặt củng cố tính cứng rắn, hợp pháp quan điểm, lập trường của họ, mặt khác mang tính răn đe đối với bất cứ bên nào có ý đồ sử dụng vũ lực để chiếm đóng.
Bốn là: Các cơ chế an ninh, phòng ngừa cũng được quan tâm thoả đáng.
Đã có hàng loạt các cơ chế an ninh, phòng ngừa quy định thái độ của các bên tranh chấp đối với vấn đề Hoàng Sa.Trong đó quan trọng nhất là những cơ chế do ASEAN( hiệp hội các nước Đông Nam Á) qui định bao gồm: Tuyên bố khu vực hoà bình, tự do trung lập, tuyên bố ASEAN và Bỉên Đông năm 1992: Bộ qui tắc ứng xử Biển Đông ( COD) và quy tắc ứng xử giữa Trung Quốc và Philippin năm 1995…
Năm là: Khả năng kiềm chế ngoại giao và chính trị giữa các quốc gia là tương đối tốt trong suốt thời gian có nguy cơ xảy ra xung đột vũ trang. Hiệu quả mà phương thức này mang lại còn hơn cả biện pháp răn đe quân sự. Việc thành lập một khối ASEAN thống nhất đã tạo được cơ chế đối trọng rất tốt với Trung Quốc trong quá trình tiến hành giải quyết tranh chấp
Sáu là: Vấn đề về cân bằng chiến lược cũng đã được tiến hành và quan tâm.
Hầu hết các quốc gia Đông Nam Á đều muốn có sự hiện diện của quân đội của Hoa Kỳ trên lãnh thổ của họ như: Singapo, Philippin, Thái lan, Indonesia…tuy nhiên trừ Singapo, không một quốc gia nào mong muốn Mỹ làm thay phần của họ hoặc can thiệp quá sâu vào công việc đòi chủ quyền lãnh thổ của họ. Bên cạnh đó, lợi ích của một số cường quốc khác như: Nhật Bản, Nga, Mỹ… trong khu vực Biển Đông cũng là một yếu tố khiến cho khu vực này có sự cân bằng về chiến lược.
III. MỘT SỐ KẾT LUẬN
Không phải ngẫu nhiên người ta coi thế kỷ 21 là thế kỷ của đại dương và của biển và xu thế tiến ra biển đang là xu thế chung của nhân loại trong thế kỷ này. Tuy vậy cũng chính từ đó mà nguy cơ xảy ra xung đột luôn tiềm ẩn và có thể bùng phát bất cứ lúc nào. Những thành tựu mà khu vực nói chung và Việt Nam đã đạt được trong thời gian qua nhằm kiềm chế, quản lý xung đột thực sự rất đáng ghi nhận và cần được củng cố, phát huy.
Tinh minh bạch và tuân thủ pháp luật quốc tế trong các hoạt động của các bên hữu quan về vấn đề chủ quyền lãnh thổ đối với quần đảo Trường Sa và vấn đề tranh chấp chủ quyền lãnh thổ trên quần đảo Hoàng Sa luôn là tiêu chí tối quan trọng, đặc biệt là đối với Trung Quốc.
Việt Nam khẳng định chủ quyền không thể chối cãi của mình đối với hai quần đảo Trương Sa và Hoàng Sa, luôn giữ vững lập trường, quan điểm của mình về hai quần đảo này trong tất cả các cuộc đàm phán song phương, đa phương trên trường quốc tế đó là: giải quyết tranh chấp bằng phương pháp hoà bình, theo qui định của pháp luật của quốc tế hiện tại. Không chỉ với chủ quyền mà đối với cả vấn đề tranh chấp, chồng lấn trên các vùng biển với một số quốc gia hữu quan khác.
Chúng tôi hy vọng rằng với một số ý kiến nêu trong bài viết này, sẽ góp phần củng cố thêm cơ sở pháp lý của Việt Nam khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Bên cạnh đó, phần nào sẽ giúp chúng ta có cái nhìn sâu hơn về những nguy cơ gây xung đột và khả năng kiềm chế xung đột trong khu vực Biển Đông, đặc biệt là tại khu vực hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Mặc dù xung đột ở biển Đông là có ít khả năng trở lên tiêu cực, xét cả khía cạnh huy động hoả lực và khả năng tiềm tàng song không vì thế mà các quốc gia ven bờ biển Đông không quan tâm đến vấn đề này. Xung đột kéo dài, mang tính chất phức tạp, với sự tham gia của nhiều quốc gia đã cản trở tiến trình hội nhập của mỗi quốc gia có liên quan và Việt Nam không nằm ngoài qui luật đó. Nhu cầu giải quyết tranh chấp trên Biển Đông và đưa ra các phương pháp, cách thức hạn chế, quản lý xung đột đó đã và đang là nhu cầu cấp thiết.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
